Tổng quan luận án
Công trình "Thực trạng thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào" do nghiên cứu sinh Bounly Patsaphanh thực hiện, thuộc ngành Giáo dục học (mã số 9140101), bảo vệ tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của cán bộ hướng dẫn Đàm Trung Kiên. Nghiên cứu thuộc hướng tiếp cận định lượng kết hợp khảo sát thực trạng sư phạm, tập trung giải quyết vấn đề đánh giá sự phát triển thể chất của sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của nước CHDCND Lào sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đặt trọng tâm vào việc phát triển nguồn nhân lực để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Nền giáo dục Lào vận hành theo định hướng 5 nguyên lý giáo dục cơ bản (Đạo đức, Trí tuệ, Nghề nghiệp, Thể chất, Nghệ thuật) và 3 thuộc tính (tính quốc gia, tính khoa học, tính xã hội). Trong hệ thống đó, giáo dục thể chất (GDTC) là bộ phận quan trọng nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực và nhân cách cho thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, thực tế triển khai công tác GDTC tại Lào nói chung và Trường Đại học Quốc gia Lào nói riêng bộc lộ nhiều hạn chế:
- Chất lượng giờ học GDTC chưa cao, thời lượng tổ chức chưa đều đặn;
- Tài liệu giảng dạy thiếu thốn, đội ngũ giảng viên mỏng và trình độ chuyên môn chưa đồng đều;
- Cơ sở vật chất, sân bãi và trang thiết bị dụng cụ tập luyện còn thiếu hụt;
- Chương trình môn học GDTC tại Trường Đại học Quốc gia Lào chỉ gồm 80 tiết, bố trí trong duy nhất 1 học kỳ;
- Nhà trường và Bộ Giáo dục và Thể thao Lào chưa ban hành bộ tiêu chuẩn cụ thể để kiểm tra, đánh giá phân loại thể chất định kỳ cho sinh viên qua từng năm học.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các dữ liệu thực nghiệm có hệ thống và các tiêu chuẩn đánh giá thể chất phù hợp với đặc điểm nhân trắc, lứa tuổi của sinh viên Lào, làm căn cứ điều chỉnh chương trình đào tạo thể chất.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác GDTC của Trường Đại học Quốc gia Lào, lựa chọn các chỉ tiêu có tính khả thi để đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào, góp phần phát triển phong trào thể dục thể thao (TDTT) cho Nhà trường và đất nước, nâng cao hiệu quả công tác rèn luyện thể chất cho sinh viên đại học tại Lào.
Luận án giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Lựa chọn chỉ tiêu, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá mức độ phát triển thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào.
- Nhiệm vụ 2: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào.
- Nhiệm vụ 3: Đánh giá đặc điểm phát triển thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào.
Giả thuyết khoa học
Việc đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình kiểm tra và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác GDTC. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ người học mà còn do quá trình đào tạo và đơn vị tổ chức thực hiện GDTC. Nếu đánh giá đúng thực trạng thể chất và tìm ra các giải pháp phù hợp sẽ khắc phục được các khó khăn, hạn chế, góp phần nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên Nhà trường và tạo định hướng phát triển thể chất cho sinh viên các trường đại học tại CHDCND Lào.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng thể chất của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào.
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, giảng viên và sinh viên nam, nữ từ năm thứ nhất đến năm thứ tư thuộc Trường Đại học Quốc gia Lào.
- Phạm vi và quy mô mẫu: 30 chuyên gia; 50 cán bộ, giảng viên; 1.782 sinh viên tham gia đo lường thể lực (trong đó mẫu khảo sát phiếu tự đánh giá và tần suất tập luyện ngoại khóa là 1.784 sinh viên).
- Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh (Việt Nam) và Trường Đại học Quốc gia Lào (Thủ đô Viêng Chăn, Lào).
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước Lào
Trong phạm vi CHDCND Lào, các đề tài nghiên cứu về GDTC và thể lực sinh viên còn rất hạn chế:
- Khamla KeoMeuangsam (2015) nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể chất chung cho sinh viên năm thứ nhất Khoa Sư phạm thuộc Trường Đại học Quốc gia Lào, đề xuất 6 test đánh giá thể lực chung;
- Khamsing XayYaVongSy (2018) nghiên cứu các biện pháp tổ chức tập luyện ngoại khóa nâng cao thể lực cho nữ sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào, bước đầu đánh giá thể chất và đề xuất 5 test kiểm tra.
Tác giả luận án nhận định các nghiên cứu này chỉ giới hạn ở phạm vi một khoa đào tạo, một nhóm đối tượng cụ thể (nữ sinh viên hoặc sinh viên năm thứ nhất) và dừng lại ở mức độ đề xuất bài tập, chưa khảo sát toàn diện các khối năm học cũng như chưa làm rõ nguyên nhân thực trạng từ góc độ điều kiện bảo đảm đào tạo.
Các nghiên cứu ngoài nước
Về nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn thể lực tại Việt Nam, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Dương Nghiệp Chí và Nguyễn Danh Thái (2003): Nghiên cứu thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi (thời điểm 2001);
- Hoàng Công Dân (2005): Nghiên cứu phát triển thể chất cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc lứa tuổi 15–17;
- Trịnh Kiên (2007): Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển thể chất của nữ sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Hoàng Thái Đông (2008): Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực sinh viên không chuyên TDTT Trường Đại học Sư phạm Hà Nội;
- Hoàng Thị Thanh Hà (2011): Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh;
- Lê Trí Trường (2013), Phạm Quang Long (2013), Đặng Hoài An (2014), Phạm Đức Toàn (2014), Đỗ Hữu Trường (2014), Đồng Hương Lan (2016) về xây dựng tiêu chí tuyển sinh, tiêu chuẩn thể lực sinh viên đại học;
- Tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh, sinh viên ban hành năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với 6 nội dung: Lực bóp tay thuận, Nằm ngửa gập bụng, Bật xa tại chỗ, Chạy 30m xuất phát cao, Chạy con thoi 4x10m, Chạy tùy sức 5 phút.
Về tiêu chuẩn kiểm tra thể lực quốc tế:
- Thái Lan: Công trình của Arom Treeraj, Chatchai Sriwilai, Jira Nabsanit (2014) về tiêu chuẩn thể chất cho vận động viên đại học; nghiên cứu của Vụ Giáo dục thể chất - Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan (2019) cho lứa tuổi 13–18; tiêu chuẩn chung gồm lực bóp tay thuận, gập bụng, chạy thoi 4x10m, ngồi gập thân, chạy 500m, chống đẩy/treo tay;
- Hoa Kỳ: Hệ thống kiểm tra thanh thiếu niên 9–17 tuổi gồm 6 nội dung (kéo xà đơn, gập thân, chạy thoi 4x30 yard, bật xa tại chỗ, chạy 50 yard, chạy 600 yard hoặc 9–12 phút);
- Liên Xô (cũ): Tiêu chuẩn thể lực cấp tiểu học (7 nội dung) và cấp trung học (4 nội dung);
- Trung Quốc: Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể quốc gia theo 4 nhóm tố chất và 4 nhóm tuổi;
- Nhật Bản, Singapore (hệ thống kiểm tra thể năng từ năm 1981 với 6 nội dung), Indonesia, Malaysia với các bài tập đo lường sức mạnh, sức bền, độ dẻo và năng lực chạy biến tốc.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án lấp đầy khoảng trống dữ liệu khi là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về phát triển thể chất của cả nam và nữ sinh viên trải dài từ năm thứ nhất đến năm thứ tư tại Trường Đại học Quốc gia Lào; xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá riêng biệt có căn cứ kiểm định toán học, gắn liền với phân tích toàn diện thực trạng chương trình, sân bãi và đội ngũ giảng dạy.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm
Luận án dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành GDTC và khoa học TDTT:
- Sức khỏe: Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, không đơn thuần là không có bệnh tật;
- Thể chất: Quan điểm của L. P. Matveev xác định thể chất là chất lượng cơ thể con người, biểu hiện các đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng được hình thành trên cơ sở bẩm sinh di truyền và điều kiện sống;
- Hoàn thiện thể chất: Quan điểm của B. Kuznetsov và Sokolov (2000) coi đây là mức độ thể lực toàn diện đáp ứng tối ưu yêu cầu lao động và hoạt động thực tiễn trong giai đoạn lịch sử cụ thể;
- Giáo dục thể chất: Các luận điểm của Vũ Đức Thu, A. Kuznetsov, Virgilio (1997) và A. P. Novikov xác định GDTC là quá trình sư phạm chuyên biệt hướng vào dạy học động tác, phát triển có chủ định các tố chất thể lực và hoàn thiện chức năng cơ thể;
- Quy luật phát triển tố chất thể lực: Quan điểm của D. Harre về mối quan hệ thống nhất giữa các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo, khả năng phối hợp vận động) với năng lực chức phận chung;
- Các yếu tố chi phối: Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 18–25 (ổn định hệ xương khớp, phát triển cơ bắp); yếu tố tâm lý thanh niên; di truyền và môi trường; chế độ dinh dưỡng (gluxit, protit, lipit và tiêu hao năng lượng); điều kiện vệ sinh sinh hoạt xã hội; đặc điểm nhân trắc hình thái (theo Nguyễn Ngọc Cừ và cộng sự).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp 6 phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu các chỉ thị, nghị định của Đảng, Chính phủ Lào (Chỉ thị 416/TW, Nghị định 289/CP năm 2013), các văn bản của Bộ Giáo dục và Thể thao Lào cùng tài liệu chuyên môn trong và ngoài nước;
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát việc tổ chức giảng dạy môn học GDTC nội khóa và hoạt động tập luyện TDTT ngoại khóa tại các cơ sở đào tạo;
- Phương pháp phỏng vấn tọa đàm: Thu thập ý kiến qua phiếu hỏi phỏng vấn cán bộ, giảng viên, chuyên gia (2 vòng phỏng vấn để sàng lọc test) và sinh viên;
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Ứng dụng các bài test vận động tiêu chuẩn để đo lường các tố chất thể lực;
- Phương pháp kiểm tra y sinh học: Thực hiện đo đạc các chỉ số hình thái (chiều cao đứng), chức năng tim mạch (chỉ số công năng tim Harvard - HW) và chức năng hô hấp (dung tích sống);
- Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu thực nghiệm, tính toán số trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), kiểm định tương quan Pearson ($r$) để xác định tính thông báo và độ tin cậy test-retest, tính nhịp độ tăng trưởng ($W$) theo công thức S. Brody.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu được thu thập từ 30 chuyên gia TDTT; 50 cán bộ quản lý và giảng viên GDTC; 1.782 sinh viên đo kiểm thể lực và 1.784 phiếu khảo sát tự đánh giá của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào; hệ thống văn bản pháp quy từ Bộ Giáo dục và Thể thao Lào và các báo cáo đào tạo của Nhà trường giai đoạn 2015–2020.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của nước CHDCND Lào: diện tích 236.800 km², dân số khoảng 6,8 triệu người với ba bộ tộc chính (Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Sủng). Về kinh tế, GDP liên tục tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 1.970 USD. Hệ thống giáo dục quốc dân phân cấp theo Luật Giáo dục sửa đổi năm 2007 gồm mầm non, phổ thông, nghề nghiệp và đại học. Về TDTT, nước CHDCND Lào tham gia phong trào Olympic từ năm 1980 (Moscow), tham gia ASIAD từ năm 1982 (New Delhi), SEA Games từ năm 1989 và đăng cai SEA Games 25 năm 2009. Năm 2011, Liên đoàn Thể thao sinh viên Lào được thành lập theo Quyết định số 4757/BGD, đặt trụ sở tại Trường Đại học Quốc gia Lào.
Về Trường Đại học Quốc gia Lào: Trường thành lập theo Nghị định số 50/TTCP ngày 09/06/1996, mở lớp đại học đầu tiên ngày 05/11/1996 với 8.137 sinh viên (2.170 nữ). Đến năm 2016, trường phát triển quy mô gồm 13 trường thành viên (trong đó có Trường Đại học Khoa học và TDTT thành lập theo Quyết định số 3312/BGD-TT ngày 10/8/2016) và 7 viện nghiên cứu, đào tạo 173 chương trình (3 tiến sĩ, 44 thạc sĩ, 100 cử nhân, 3 cao đẳng, 24 chương trình hoàn thiện). Quy mô sinh viên từng đạt 40.000 (năm 2010), sau đó điều chỉnh còn khoảng 21.000 sinh viên; quy mô giảng viên tăng từ 774 người (giai đoạn 1996–2001) lên trên 1.400 người năm 2016.
Chương này cũng tổng hợp các chủ trương của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về giáo dục và TDTT thông qua Chỉ thị số 416/TW ngày 09/09/2013 và Nghị định 289/CP ngày 28/10/2013 ban hành Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020; hệ thống hóa các quan điểm lý luận về GDTC, đặc điểm phát triển sinh lý - tâm lý thanh niên lứa tuổi 18–25, và tổng thuật các hệ thống tiêu chuẩn thể lực trên thế giới.
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết cách thức triển khai 6 phương pháp nghiên cứu khoa học và kế hoạch tổ chức thực hiện qua các giai đoạn từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2020:
- Giai đoạn 1 (12/2015 – 12/2016): Tổng quan tài liệu, xây dựng đề cương, phỏng vấn chuyên gia lần 1 và lần 2 để lựa chọn hệ thống test;
- Giai đoạn 2 (01/2017 – 12/2018): Khảo sát thực trạng công tác GDTC, kiểm tra các chỉ số y sinh và tố chất thể lực của 1.782 sinh viên 4 năm học; tính toán kiểm định độ tin cậy và tính thông báo;
- Giai đoạn 3 (01/2019 – 12/2020): Xây dựng thang điểm tiêu chuẩn, phân loại thể lực, kiểm nghiệm thực tế và hoàn thiện văn bản luận án.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Nội dung Chương 3 giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu thông qua hệ thống 41 bảng số liệu và 18 biểu đồ:
1. Lựa chọn chỉ tiêu và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất (Nhiệm vụ 1)
Qua 2 lần phỏng vấn tọa đàm chuyên gia (Bảng 3.1 và Bảng 3.2), kiểm tra mối tương quan giữa thành tích test với kết quả học tập (Bảng 3.3) và xác định hệ số tương quan test-retest qua 2 lần lặp (Bảng 3.4), luận án đã tuyển chọn 9 chỉ tiêu đánh giá có độ tin cậy cao và tính thông báo rõ rệt:
| STT |
Tên chỉ tiêu / Test kiểm tra |
Đơn vị đo |
Nhóm đánh giá |
| 1 |
Chiều cao đứng |
cm |
Hình thái |
| 2 |
Chỉ số công năng tim (HW) |
Điểm |
Chức năng tim mạch |
| 3 |
Dung tích sống |
Lít |
Chức năng hô hấp |
| 4 |
Nằm sấp chống đẩy |
Lần |
Sức mạnh cơ tay - ngực |
| 5 |
Bật xa tại chỗ |
cm |
Sức mạnh bộc phát chân |
| 6 |
Nằm ngửa gập bụng 30 giây |
Lần |
Sức bền sức mạnh cơ bụng |
| 7 |
Chạy 30m xuất phát cao |
Giây (s) |
Sức nhanh tốc độ |
| 8 |
Chạy con thoi 4x10m |
Giây (s) |
Khả năng khéo léo, phối hợp |
| 9 |
Chạy tùy sức 12 phút |
Mét (m) |
Sức bền chung |
Từ dữ liệu kiểm tra thể lực sinh viên các năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư (Bảng 3.5 đến 3.8), tác giả lập Bảng điểm tổng hợp (Bảng 3.11), bảng phân loại thể chất (Bảng 3.12 đến 3.19) và bảng điểm chi tiết cho nam, nữ sinh viên từ 18 đến 21 tuổi (Bảng 3.20 đến 3.27) theo thang điểm chuẩn.
2. Thực trạng công tác giáo dục thể chất tại Trường Đại học Quốc gia Lào (Nhiệm vụ 2)
- Chương trình đào tạo: Phân phối môn GDTC chỉ gói gọn trong 80 tiết cho 1 học phần duy nhất (Bảng 3.28), nội dung học tập chủ yếu là thể dục cơ bản và điền kinh, thiếu tính kế thừa xuyên suốt khóa học;
- Cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ: Thống kê tại Bảng 3.29 cho thấy sự thiếu hụt trang thiết bị nghiêm trọng so với quy mô hàng chục nghìn sinh viên;
- Đội ngũ giảng viên: Bảng 3.30 phản ánh số lượng giảng viên GDTC còn mỏng, cơ cấu trình độ sau đại học còn thấp;
- Kết quả học tập môn học: Bảng 3.31 ghi nhận kết quả học tập môn TDTT thời điểm năm học 2016–2017;
- Tập luyện ngoại khóa: Khảo sát 1.784 sinh viên tại Bảng 3.32 cho thấy tần suất tập luyện ngoại khóa rất thấp, phần lớn sinh viên không duy trì tập luyện TDTT đều đặn trong tuần;
- Khảo sát nhận thức: Kết quả thăm dò ý kiến sinh viên (Bảng 3.33, n = 1.784) chỉ ra rằng sinh viên chưa nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về điều kiện sân bãi và hướng dẫn chuyên môn ngoài giờ.
3. Đặc điểm và diễn biến phát triển thể chất của sinh viên (Nhiệm vụ 3)
- So sánh và nhịp tăng trưởng: Bảng 3.34 và 3.35 phản ánh diễn biến và nhịp tăng trưởng ($W$) các chỉ tiêu thể chất giữa các năm học của nam sinh viên; Bảng 3.36 và 3.37 phản ánh dữ liệu tương ứng ở nữ sinh viên. Thể lực có sự tăng trưởng nhẹ từ năm thứ nhất lên năm thứ hai (thời điểm đang học môn GDTC), nhưng có xu hướng chững lại hoặc suy giảm ở năm thứ ba và năm thứ tư khi không còn môn học bắt buộc;
- Phân loại thể chất: Bảng 3.38 (nam) và Bảng 3.39 (nữ) cho thấy tỷ lệ sinh viên đạt loại tốt và khá giảm dần theo các năm học sau, trong khi tỷ lệ đạt trung bình và yếu tăng lên;
- Kiểm nghiệm tiêu chuẩn thực tiễn: Bảng 3.40 (nam) và Bảng 3.41 (nữ) khẳng định tính phù hợp và khả năng ứng dụng thực tế của bảng tiêu chuẩn đã xây dựng;
- Trực quan hóa diễn biến: Hệ thống 18 biểu đồ (Biểu đồ 3.1 đến 3.9 cho nam; Biểu đồ 3.10 đến 3.18 cho nữ) thể hiện rõ quỹ đạo biến đổi của từng chỉ tiêu hình thái, chức năng và tố chất vận động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các luận cứ khoa học về đánh giá thể chất trong điều kiện thực tiễn của giáo dục đại học tại CHDCND Lào;
- Xác lập cơ sở lý luận cho việc tuyển chọn tổ hợp chỉ tiêu đánh giá phát triển thể chất lứa tuổi 18–21 gồm đầy đủ 3 thành tố: hình thái (chiều cao), chức năng sinh lý (tim mạch, hô hấp) và tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Lần đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn và bảng điểm đánh giá phân loại thể chất cho nam và nữ sinh viên 4 khối năm học tại Trường Đại học Quốc gia Lào;
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn (1.782 sinh viên đo kiểm và 1.784 sinh viên khảo sát) phản ánh trung thực diện mạo thể chất sinh viên và những bất cập trong tổ chức GDTC tại cơ sở giáo dục đại học lớn nhất nước Lào.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đổi mới chương trình đào tạo: Bộ Giáo dục và Thể thao Lào cùng Ban Giám hiệu Trường Đại học Quốc gia Lào cần điều chỉnh chương trình GDTC, phân bổ thời lượng 80 tiết rải đều qua nhiều học kỳ thay vì bố trí tập trung trong một học phần duy nhất, nhằm duy trì nền nếp rèn luyện liên tục;
- Tăng cường cơ sở vật chất: Đầu tư kinh phí cải tạo, xây mới sân bãi, nhà tập và bổ sung dụng cụ thể thao phục vụ cả giờ học chính khóa lẫn phong trào ngoại khóa;
- Phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy: Có chính sách bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và phương pháp giảng dạy cho giảng viên GDTC;
- Thúc đẩy phong trào thể thao sinh viên: Phát huy vai trò của Liên đoàn Thể thao sinh viên Lào, tổ chức thi đấu định kỳ và thành lập các câu lạc bộ TDTT ngoại khóa tại các trường thành viên;
- Ứng dụng tiêu chuẩn thể lực: Triển khai áp dụng bộ 9 chỉ tiêu và thang phân loại của luận án vào việc kiểm tra thể lực định kỳ hàng năm cho toàn bộ sinh viên Nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung tại Trường Đại học Quốc gia Lào ở thủ đô Viêng Chăn, chưa mở rộng thu thập dữ liệu sinh viên tại các trường đại học ở khu vực miền Bắc và miền Nam nước Lào;
- Luận án mới dừng lại ở việc đánh giá thực trạng và xây dựng tiêu chuẩn phân loại, chưa tiến hành thực nghiệm can thiệp sư phạm sâu bằng các giáo án hay mô hình bài tập chuyên biệt để nâng cao các chỉ tiêu thể lực suy giảm ở sinh viên các năm cuối.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Triển khai nghiên cứu mở rộng, áp dụng thử nghiệm bộ tiêu chuẩn thể lực tại các trường đại học, cao đẳng khác trên phạm vi toàn quốc Lào nhằm xây dựng chuẩn thể lực quốc gia cho thanh niên sinh viên;
- Thiết kế và đánh giá thực nghiệm các mô hình tổ chức câu lạc bộ thể thao ngoại khóa và các tổ hợp bài tập nhằm cải thiện chức năng tim mạch, hô hấp và sức bền chung cho sinh viên sau khi kết thúc môn học chính khóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn có giá trị thực tiễn đối với nhiều đối tượng:
- Cán bộ quản lý và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Thể thao Lào: Làm căn cứ thực tiễn để ban hành các quy chế kiểm tra thể lực bắt buộc và định hướng đầu tư cơ sở vật chất TDTT trường học;
- Ban Giám hiệu và Khoa Giáo dục thể chất Trường Đại học Quốc gia Lào: Trực tiếp sử dụng bảng tiêu chuẩn 9 chỉ tiêu để tổ chức đánh giá phân loại sinh viên đầu vào và sinh viên từng năm học;
- Giảng viên giáo dục thể chất: Tham khảo cấu trúc định mức điểm số để đánh giá công bằng kết quả rèn luyện thể lực của người học;
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Giáo dục học, Huấn luyện thể thao: Tham khảo về phương pháp luận kết hợp kiểm tra y sinh và sư phạm, quy trình toán học kiểm định tính thông báo và độ tin cậy trong nghiên cứu thể chất.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tuyển chọn những chỉ tiêu nào để đánh giá thể chất của sinh viên?
Luận án tuyển chọn tổ hợp 9 chỉ tiêu qua 2 vòng phỏng vấn chuyên gia và kiểm định toán học: Chiều cao đứng (hình thái); Chỉ số công năng tim Harvard và Dung tích sống (chức năng y sinh); Nằm sấp chống đẩy, Bật xa tại chỗ, Nằm ngửa gập bụng 30 giây, Chạy 30m xuất phát cao, Chạy con thoi 4x10m, Chạy tùy sức 12 phút (các tố chất thể lực).
2. Quy mô mẫu và thời gian nghiên cứu của đề tài được tiến hành như thế nào?
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2020. Mẫu nghiên cứu gồm 30 chuyên gia; 50 cán bộ quản lý và giảng viên; 1.782 sinh viên nam, nữ từ năm thứ nhất đến năm thứ tư tham gia đo kiểm thể lực (khảo sát phiếu tự đánh giá gồm 1.784 sinh viên).
3. Thực trạng chương trình môn học GDTC tại Trường Đại học Quốc gia Lào có điểm gì bất cập?
Chương trình GDTC chỉ gồm 80 tiết được bố trí học duy nhất trong 1 học kỳ của toàn khóa học, chưa bảo đảm tính liên tục và thiếu bộ công cụ tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá định kỳ sau khi hoàn thành môn học.
4. Diễn biến thể chất của sinh viên qua 4 năm học tại Trường Đại học Quốc gia Lào có đặc điểm gì?
Thể chất sinh viên có xu hướng phát triển từ năm thứ nhất lên năm thứ hai (trong giai đoạn học môn GDTC nội khóa), nhưng sau đó chững lại hoặc giảm sút ở năm thứ ba và năm thứ tư. Tỷ lệ sinh viên xếp loại thể lực tốt và khá giảm dần ở các năm cuối khóa.
5. Cơ sở pháp lý và văn bản chiến lược nào của Lào được luận án sử dụng làm căn cứ quản lý?
Luận án căn cứ vào Chỉ thị số 416/TW ngày 09/09/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nghị định số 289/CP ngày 28/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ Lào về Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020, và Quyết định số 4757/BGD năm 2011 thành lập Liên đoàn Thể thao sinh viên Lào.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Bounly Patsaphanh đã giải quyết trọn vẹn 3 nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc phân tích thực trạng công tác GDTC, tuyển chọn hệ thống 9 chỉ tiêu đo lường có tính thông báo và độ tin cậy cao, đồng thời xây dựng thang tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên Trường Đại học Quốc gia Lào từ 18 đến 21 tuổi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những hạn chế rõ rệt về thời lượng chương trình 80 tiết, sự thiếu thốn cơ sở vật chất sân bãi và xu hướng chững lại của thể lực sinh viên ở các năm học cuối. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm tin cậy, đóng góp cơ sở khoa học cho các giải pháp quản lý, điều chỉnh chương trình đào tạo và thúc đẩy phong trào rèn luyện thân thể trong hệ thống giáo dục đại học tại CHDCND Lào.