CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI DẠY NỘI DUNG BÀI THỂ DỤC BẰNG NỘI DUNG VÕ VOVINAM NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC, HỨNG THÚ VÀ HIỆU QUẢ GIỜ HỌC Ở 3 KHỐI THPT. Cơ sở lý luận của đổi mới dạy nội dung bài thể dục bằng nội dung võ thuật cổ truyền nhằm nâng cao tính tích cực, hứng thú và hiệu quả giờ học I. Cơ sở pháp lý - Luật giáo dục số 43/2019/QH14, Điều 30 quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục ”. - Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/202013 của Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực người học”; “ Tập trung phát triển trí tuệ, phẩm chất, hình thành phẩm chất năng lực công dân, phát hiện bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Cơ sở thực tiễn Những năm trước đây phòng trào TDTT quần chúng chưa phát triển, hệ thống mạng, intenet chưa phổ biến. Học sinh hoạt động TDTT cơ bản thông qua các giờ học thể dục chính khóa.
Hiện nay khi đất nước phát triển nhu cầu hoạt động TDTT quần chúng phát triển, nhận thức của các bậc phu huynh về sinh hoạt, nhu cầu vận động của con em mình là rất cần thiết và bổ ích ngoài việc hạn chế con em chơi các trò chơi điện tử, truy cập các trang mạng không lành mạnh thường đăng ký cho con em tham gia hoạt động các câu lạc bộ thể thao như: Bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bơi, câu lạc bộ võ thuật vv. Nhưng khi bước vào cấp học THPT do thời gian học văn hóa nhiều không có thể tiếp tục theo tập câu lạc bộ các em phải nghỉ tập để học văn hóa. Đối với nội dung: Bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bơi các em vẫn được tiếp tục học tập và nâng cao trình độ qua kiến thức và tập luyện trong giờ Thể dục chính khóa. Riêng môn võ thuật là nội dung rất được nhiều em ưa thích .Thực tiễn hiện nay đội ngũ giáo viên dạy 5 skkn bộ môn GDTC cơ bản được đào tạo nội dung môn võ VOVINAM tại các trường Đại học và hàng năm cũng được Sở GD & ĐT cử đi bồi dưỡng tập huấn đầy đủ môn võ VOVINAM.
Nhưng chưa được đưa vào chương trình dạy chính khóa nhằm giúp các em tiếp tục phát huy tính hứng thú và ham thích cũng như để giáo viên thực hiện nhiệm vụ đào tạo vận động viên và tuyển chọn huấn luyện nhân tài võ VOVINAM cho đất nước. Đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. - Về mặt tâm lý: Ở lứa tuổi này các em bắt đầu thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để cho mọi người tôn trọng mình đã có trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, các em muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão trong học tập thành tích trong thể thao và cả mơ ước tương lai sự nghiệp. Nhưng các em còn nhiều nhược điểm, thiếu kinh nghiệm và tính kiên trì trong sinh hoạt học tập và cuộc sống.
- Về mặt hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc chọn nghề sau khi đã học xong Trung học phổ thông (THPT) hay đạt thành tích cao trong các kỳ hội khỏe phù đồng(HKPĐ). song hứng thú học tập rèn luyện cũng còn nhiều động cơ khác nhau như: Giữ lời hứa với Bố mẹ bạn bè và đôi khi các em vẫn còn mang tính tự ái, e dè hiếu danh… cho nên giáo viên cần định hướng tạo cơ hội nắm bắt tâm sinh lý của các em tạo điều kiện xây dựng động cơ đúng đắn cho các em được hứng thú bền vững trong học tập nói chung và trong giáo dục thể chất nói riêng. - Về mặt tình cảm; So với học sinh các cấp học trước học sinh THPT biểu lộ rõ rệt hơn tình cảm gắn bó và yêu quí mái trường mà các em sắp phải rời xa, đặc biệt là đối với giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng cảu các em là một trong những thành công trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Điều đó giúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc đẩy các em tích cực, tự giác trong học tập và ham thích môn thể dục.
Do vậy giáo viên phải là người mẫu mực trong ứng xử giao tiếp với học sinh, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm đúng mức tới học sinh, tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của các em. - Về trí nhớ; Ở lứa tuổi này hầu như các em không còn việc ghi nhớ máy móc do các em đã biết cách ghi nhớ hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ hơn là lĩnh hội bản chất của vấn đề. * Đặc điểm phát triển khả năng vận động và tố chất thể lực Sự phát triển khả năng vận động và các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ với với sự phát triển của cơ thể nói chung và của từng cơ quan nói riêng. Bản thân sự vận động cũng góp phần quan trọng trong sự phát triển cơ thể.
+ Phát triển bộ máy vận động: Trong quá trình phát triển của cơ thể có sự thay đổi mô sụn bằng mô xương. Cùng với sự phát triển cơ thể chiều dài, chiều dày 6 skkn và biến đỗi thành phần hóa hóa học của xương cũng như độ bền của xương tăng lên, tủy xương trong ống xương cũng phát triển dần theo lứa tuổi. Sự phát triển của cơ phụ thuộc vào sự phát triển của xương. + Sự phát triển các tố chất thể lực: Quá trình hình thành và phát triển các các tố chất thể lực luôn có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành kỹ năng vận động và mức độ phát triển các cơ quan , hệ cơ quan cơ thể.
Sự phát triển tố chất thể lực không đồng đều, các tố chất thể lực có giai đoạn phát triển nhanh, có giai đoạn phát triển tương đối chậm I. Tác dụng của việc đổi mới nội dung bài thể dục nhịp điệu bằng nội dung võ thuật cổ truyền nhằm nâng cao tính tích cực, hứng thú và hiệu quả giờ học môn GDTC ở Trường chúng tôi. Giúp học sinh có động lực học tập bằng cách đáp ứng nhu cầu cơ bản của chúng trong lớp học. Học sinh khi học tập một cách có động lực sẽ là người học suốt đời.
Những chiến lược dưới đây sẽ cải thiện động lực và hứng thú của học sinh trong lớp học và mang đến một môi trường học tập tốt hơn. Khi nói đến việc tạo động lực trong lớp học chúng ta thường nghĩ về các chiến lược để động viên, khuyến khích học sinh làm điều gì đó hoặc thực hiện nhiệm vụ học tập với nỗ lực cao hơn. Tuy nhiên, khi nghiên cứu một cách sâu hơn, chúng ta nhận ra rằng, động lực học tập không đơn thuần đến từ lời khen hay phần thưởng. Nó là sự thỏa mãn bên trong giống như sự thỏa mãn những nhu cầu cá nhân.Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể phân loại các chiến lược tạo động lực và hứng thú thành những chiến lược bên ngoài và những chiến lược tạo động lực từ bên trong.
Các hình thức tạo động lực bên ngoài đến từ một tác nhân bên ngoài. Ngược lại, các hình thức động lực nội tại khai thác vào các yếu tố từ chính bên trong. Những hình thức động lực này có thể đến sự thỏa mãn bên trong, chẳng hạn như sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Để học sinh có động lực nội tại, điều quan trọng là các nhu cầu cơ bản của chúng được đáp ứng.
Điều này có nghĩa là, giáo viên phải cung cấp một môi trường lớp học và trạng thái cảm xúc của học sinh mà việc học tập cá nhân có thể phát triển. Nhu cầu cơ bản Nhu cầu cơ bản của con người về tình yêu và sự thuộc về, quyền lực, năng lực, tự do và niềm vui dường như là những điều vốn có và mang tính phổ quát. Những nhu cầu cơ bản này tồn tại liên tục cả trong và ngoài lớp học. Bằng chứng cho thấy một học sinh đến từ một gia đình trong đó nhu cầu cơ bản được đáp ứng, nhiều khả năng học sinh đó sẽ hành động tự tin hơn, tập trung và tin tưởng hơn.
Là giáo viên, chúng ta phải nhận ra học sinh có những nhu cầu cơ bản và những nhu cầu đó sẽ tự thể hiện, bằng cách này hay cách khác ở trường. Khi 7 skkn chúng ta nhìn nhận các vấn đề về hành vi và không khí cảm xúc trong lớp học thông qua lăng kính của các nhu cầu cơ bản, các vấn đề sẽ được chiếu sáng và các giải pháp trở nên rõ ràng hơn Yêu và tin Cảm giác yêu thương và thuộc về được cho là nhu cầu cơ bản nhất của con người. Khi một học sinh cảm thấy không được yêu thương, xa lánh hoặc cô lập, các phản ứng bên trong thông thường là cảm giác tội lỗi, vô dụng, cô đơn và lòng tự trọng bị hạ thấp, trong khi các phản ứng bên ngoài thông thường bao gồm những hành động quá khích. Giáo viên có thể cho học sinh cảm giác yêu thương và thân thuộc hơn bằng cách nhận ra những phẩm chất và tài năng độc đáo, tạo ra một môi trường lớp học an toàn về mặt cảm xúc, và thể hiện sự quan tâm và tôn trọng thực sự.
Sức mạnh Ý thức về quyền lực có liên quan cơ bản đến sự phát triển của nhu cầu kiểm soát bản thân. Khi một học sinh cảm thấy chúng không có bất kỳ sức mạnh nào, các phản ứng bên trong phổ biến bao gồm rút lui và thụ động, trong khi các phản ứng bên ngoài phổ biến bao gồm nổi loạn và thù địch.