Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH 1. Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu: 1. Trên thế giới: Năm 2006, Luận văn Thạc sĩ “Physical Education and Sport in Hungarian Schools After The Political Transition of The 1990s” (tạm dịch là “GDTC và TDTT tại các trường Hungary sau cuộc quá độ chính trị của những năm 1990”) của các tác giả Pál Hamar, Derek M.Peters, Karen Van Berlo và Ken Hardman nói về sự thay đổi chương trình giảng dạy, khái niệm hiện đại hóa trong các trường GDTC và thể thao. [20] Năm 2007, tác phẩm “Hungarian PE Teachers’ Opinions About Current Issues Of PE Learning And Teaching Methods” (tạm dịch là “Quan điểm của giáo viên GDTC người Hungary về thực trạng của phương pháp học và dạy GDTC”) của tác giả Éva Leibinger, Pál Hamar, Eszter Volgyi, Henrietta Dancs nói về mong đợi của giáo dục Hungary có được một sự cân bằng giữa cải cách và truyền thống.[23] Năm 2011, Luận văn Thạc sĩ “Moving towards quality physical education: Physical education provision in Singapore” (tạm dịch là “Hoạt động hướng đến chất lượng GDTC: Điều khoản GDTC ở Singapore”) của các tác giả Michael McNeill, Boo San Coral Lim, Chee Keng John Wang, Wee Keat Clara Tan, Ann MacPhail nói lên tình hình hiện tại của GDTC ở các trường Singapore và so sánh nó ngược trở lại với tiêu chuẩn quốc tế được đề ra và các khuyến nghị.
[24] Năm 2012, tác phẩm nghiên cứu “China to promote students’ physical education” (tạm dịch là “Trung Quốc đẩy mạnh GDTC cho HSSV”) của tác giả Xinhua đã nói lên sự đòi hỏi giới hạn để bảo đảm rằng học sinh trường tiểu học và trung học phải trải qua một giờ mỗi ngày cho các môn thể thao ở sân trường. [26] 5 Luan van Năm 2013, tác phẩm “The Study on the Development of Physical Education in China” (tạm dịch là “Nghiên cứu về sự phát triển GDTC tại Trung Quốc”) của tác giả Wu Juan đã phân tích thực trạng về sự phát triển GDTC của Trung Quốc bởi việc kiểm tra nhật ký phát triển trong 100 năm qua với mục đích xây dựng một hệ thống GDTC mới. [22] Cũng trong năm 2013, tác phẩm “Contemporary Issues in the Teaching of PE in Malaysia” (tạm dịch là “Vấn đề đương thời trong việc dạy GDTC ở Malaysia”) của tác giả Eng Hoe Wee nói về tầm quan trọng của GDTC, GDTC là môn học bắt buộc được dạy trong tất cả các trường tiểu học và trung học. [25] Luận văn Thạc sĩ “Trends in the Teaching of Health and Physical Education: A Case Study of Malaysia” (tạm dịch là “Khuynh hướng trong việc dạy GDTC và sức khỏe: Một trường hợp nghiên cứu của Malaysia”) của tác giả Wee Eng Hoe nói lên sự mong đợi trong việc cải thiện nội dung chương trình giảng dạy GDTC và sức khỏe người Malaysia.
[21] Luận văn Thạc sĩ “Curriculum reforms and physical education: The theoretical- conceptual knowledge of the Spanish school population” (tạm dịch là “Sự cải cách chương trình giảng dạy và GDTC: Kiến thức thuộc khái niệm và lý thuyết của tổng thể các trường thuộc Tây Ban Nha”) của tác giả Juan Luis Hernández A1lvarez, Roberto Velázquez Buendía, Eugenia Martinez Gorrono đã phân tích sự thay đổi phát sinh bởi việc thực thi chương trình giảng dạy mới trong ngữ cảnh của Luật Giáo Dục Mới ở Tây Ban Nha. [19] Tóm lại, có rất nhiều các nghiên cứu nước ngoài đề cập đến việc giảng dạy và học tập môn GDTC, đa số các đề tài đã có nhiều sự cải tiến về chương trình giảng dạy theo hướng hiện đại hóa, đưa ra dược các phương pháp học và dạy GDTC có sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống , tuy nhiên đề tài chưa đưa ra được các phương pháp mang tính tích cực hóa trong học tập cho người học và chưa nghiên cứu về chất lượng huấn luyện môn GDTC. Các nghiên cứu ở Việt Nam: Để từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giảng dạy/học tập môn GDTC theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước, qua các công trình đã nghiên cứu về GDTC của các tác giả trong nước như: “nghiên cứu xác định chính sách 6 Luan van và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quy hoạch công tác thể dục thể thao (TDTT) ngành Giáo dục - Đào tạo từ năm 1998 – 2000 và định hướng đến 2025” của tác giả Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu (1998); “thực trạng phát triển thể chất của HSSV trước thềm thế kỉ XXI” của các tác giả Lê Văn Lâm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trúc Hải, Vũ Bích Huệ (2000). Ở các phương diện khác nhau hiện có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu nâng cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo trong các trường CAND nói chung và chất lượng huấn luyện môn GDTC nói riêng.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học cơ sở, người nghiên cứu xin tổng quan một số công trình tiêu biểu như sau: Đề tài khoa học cấp Bộ (2001) “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Trường Trung học CSND” do TS. Đàm Xuân Nhung làm chủ nhiệm. Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về hoạt động tổ chức dạy học dựa theo chức năng đào tạo của trường Trung học CSND. Đề tài đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản, khảo sát đánh giá chất lượng về hoạt động giáo dục đào tạo trong các trường CAND nói chung.
Bên cạnh đó, đề tài làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại hạn chế, từ cơ sở trên đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Trung học CSND. [9] Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ (2007) “Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý hoạt động ngoài giờ của học viên các Trường CAND” của tác giả Vũ Đức Khiển, là một công trình nghiên cứu đầy đủ về tổ chức, quản lý học viên trong các hoạt động ngoài giờ học chính khóa. Kết quả nghiên cứu đã đề cập toàn diện về thực trạng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, quản lý hoạt động ngoài giờ của học viên các Trường CAND. Qua đó, tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cơ bản về công tác tổ chức, quản lý học viên các trường CAND.
[6] Đề tài khoa học cấp cơ sở “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, huấn luyện quân sự và võ thuật tại Trường trung cấp CSND II” của tác giả Đỗ Duy Trinh (2010), đã đưa ra được một số đánh giá thực trạng về công tác giảng dạy, huấn luyện quân sự và võ thuật tại Trường trung cấp CSND II (nay là Trường CĐ CSND II) và nguyên nhân dẫn đến hạn chế tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp. [16] Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho nam học viên Trường trung cấp An ninh nhân 7 Luan van dân II” của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa (2012), đã đánh giá được thực trạng chất lượng cong tác GDTC tại trường Trung cấp an ninh nhân dân II trong thời gian qua, xác định được các nguyên nhân dẫn đến tồn tại kết hợp với phương pháp phân tích dữ liệu, tác giả đề xuất một số giải pháp bước đầu mang lại hiệu quả thông qua ứng dụng thực nghiệm. [8] Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Nghiên cứu giải pháp phát triển các tố chất thể lực trong giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III” của tác giả Nguyễn Văn Độ (2014) đã nghiên cứu đánh giá được thực trạng chất lượng giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III. Qua kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển tố chất thể lực cho học viên trong giảng dạy GDTC tại Trường trung cấp CSND III.
[3] Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn võ Karate-do trong giờ học ngoại khóa bắt buộc tại Trường CĐ CSND II” của tác giả Lê Anh Tám (2014), đã đánh giá được chất lượng huấn luyện võ Karate-do trong giờ ngoại khóa bắt buộc (hoạt động ngoài giờ chính khóa) tại Trường CĐ CSND II và xác định được các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng. Qua nghiên cứu, tác giả đã xây dựng được nội dung chương trình môn võ Karate-do trong giờ học ngoại khóa bắt buộc, phù hợp với đối tượng là HSSV của nhà trường. [10] Nhìn chung, đã có nhiều nhà nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện môn GDTC ở các góc độ khác nhau… nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện môn GDTC trong các trường CAND một cách sâu sắc và đầy đủ. Tuy nhiên, các công trình khoa học trên là cơ sở định hướng quan trọng giúp tác giả tham khảo và nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ khoa học.
Các khái niệm cơ bản: 1. Giải pháp: Theo từ điển tiếng Việt, giải pháp là: Cách giải quyết một số vấn đề nào đó, đưa ra giải pháp hữu ích, giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ. Theo Business Dictionary: Solution is Answer(s) suggested or implemented to try and solve a question or problem (tạm dịch là “Giải pháp là câu trả lời đã được đề nghị hoặc thực thi để cố gắng giải quyết một câu hỏi hoặc một vấn đề”). [27] 8 Luan van Từ các khái niệm trên, theo đề tài này, người nghiên cứu hiểu “giải pháp” có nghĩa là chỉ, vạch ra con đường để đi tới được cái “đích” mình cần đến hay mục tiêu mong đợi, giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn, giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn.
Chất lượng huấn luyện: Chất lượng huấn luyện được người nghiên cứu hiểu theo đề tài này là mức độ tri thức tạo nên giá trị của việc giảng dạy và hướng dẫn luyện tập, nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của người thụ huấn, giúp họ có thể chủ động xử lý những tình huống, vấn đề gặp phải trong thực tiễn. Chất lượng huấn luyện ở đây còn được hiểu là chất lượng dạy học. Nâng cao chất lượng huấn luyện: Người nghiên cứu hiểu “Nâng cao chất lượng huấn luyện” trong phạm vi đề tài này là làm tăng hiệu quả và giá trị của việc giảng dạy và hướng dẫn luyện tập, nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của người thụ huấn, giúp họ có thể chủ động xử lý những tình huống, vấn đề gặp phải trong thực tiễn. Giáo dục Thể chất: GDTC là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân.
GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”.