CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp 1. Khái niệm năng lực Vấn đề năng lực đã được tìm hiểu, bàn luận, đánh giá và định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau từ nhiều bình diện, góc độ, ở trong nước cũng như trên thế giới.
Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lí để định nghĩa: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”. 23] Theo quan điểm của nhóm này, năng lực được hiểu là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của cá nhân, một thuộc tính của nhân cách phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Năng lực của con người phần lớn do quá trình hoạt động, do tập luyện mà thành, không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có. Trong tâm lí học, năng lực chia thành các dạng khác nhau như: năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau như: năng lực tư duy suy luận, năng lực hợp tác, năng lực trừu tượng hóa, năng lực khái quát hóa. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định nào đó của xã hội như: năng lực hội họa, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh. Hai dạng năng lực chung trên có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau. Năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn.
Những năng lực cơ bản này phải được hình thành, phát triển và bồi dưỡng ở con người thường xuyên, liên tục mà không phải là bẩm sinh đã có. Theo nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí và thực hiện 10 thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [22, tr. 23] Năng lực có một số đặc điểm cơ bản, đó là: năng lực được hình thành và bộc lộ trong hoạt động; năng lực gắn với một hoạt động cụ thể; nó chịu sự chi phối của các yếu tố di truyền, môi trường và hoạt động của bản thân. Năng lực bao gồm: tri thức, kĩ năng, tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ.
Tri thức là những hiểu biết con người thu thập được trong sách vở, từ việc học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của chính bản thân mình. Kĩ năng là sự vận dụng những tri thức đã thu lượm được vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó. Tri thức và kĩ năng là điều kiện cần thiết để hoàn thành năng lực, song không đồng nhất với nhau. Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội tri thức, vận dụng kĩ năng tốt hơn.
Có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng trong lĩnh vực đó, nhưng có tri thức, kĩ năng, không có nghĩa là có năng lực mà còn cần phải có tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ nữa. Như vậy, để tạo nên năng lực của con người cần có đầy đủ các yếu tố: tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ. Để có năng lực trong một hoạt động nào đó, trước hết phải cung cấp tri thức, kĩ năng, sau nữa là phải có tinh thần tự giác, tính tích cực trong hoạt động đó. Năng lực giao tiếp * Khái niệm về năng lực giao tiếp Theo Hymes, NLGT là năng lực biết khi nào nên nói, khi nào không, nói điều gì, nói với ai, nói ở đâu, nói theo cách nào.
2] Tuy nhiên NLGT vẫn chưa được hiểu và lý giải một cách thống nhất luôn dù nó đã là mục tiêu cơ bản của các chương trình dạy học ngôn ngữ hiện nay. Theo Widdowson, “NLGT của người nói bao gồm cả sự hiểu biết về những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp để thực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống giao tiếp xã hội nhất định. Do những quy tắc sử dụng này mang đặc 11 trưng văn hóa và không thể thụ đắc một cách tự nhiên, nên chúng cần được mô tả cặn kẽ và dạy cẩn thận”. Ông cũng có cùng quan điểm với Hymes về NLGT.
Murby (1978) cho rằng khái niệm “NLGT” phải bao hàm khái niệm “năng lực ngữ pháp”. Nếu không đưa khái niệm ”năng lực ngữ pháp” vào khái niệm “năng lực giao tiếp” thì rất dễ làm cho người ta đi đến kết luận rằng: 1) Năng lực ngữ pháp và NLGT là hai loại năng lực phát triển độc lập với nhau và thường ưu tiên phát triển năng lực ngữ pháp trước. 2) Năng lực ngữ pháp không phải là một thành tố cơ bản của NLGT". 4] Như vậy có thể định nghĩa như sau về NLGT: NLGT là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả.
* Các thành tố của năng lực giao tiếp Có rất nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu xoay quanh vấn đề các thành tố của NLGT. Theo Celce Marcia, NLGT gồm có năm khía cạnh: năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn ngôn, năng lực hành động lời nói, năng lực văn hóa xã hội, năng lực chiến lược. Năng lực ngôn ngữ là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản.), đây chính là cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp. Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác cách diễn đạt ngôn ngữ.
Năng lực diễn ngôn là khả năng tổ chức, sắp xếp các từ ngữ, câu văn mang tính liên kết và mạch lạc, thể hiện các ý tưởng một cách lôgic và thống nhất. Năng lực diễn ngôn đặt ra những câu hỏi như: các từ ngữ và câu kết hợp lại với nhau như thế nào để tạo thành một đoạn văn, đoạn hội thoại, bài văn, bài diễn thuyết, bức thư. Năng lực hành động lời nói là khả năng biểu đạt các ý định bằng các hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức đã biết và việc vận dụng kĩ 12 năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp. Năng lực này đòi hỏi cần phải có khả năng diễn đạt suy nghĩ, tình cảm của mình để tạo ra lời nói.
Năng lực văn hóa - xã hội là khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa - xã hội. Năng lực này giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, nội dung và các mối quan hệ xã hội. Năng lực văn hóa - xã hội đặt ra những câu hỏi như: những từ ngữ nào phù hợp với tình huống giao tiếp và nội dung này? Cần phải diễn đạt bằng thái độ cụ thể (lịch sự, thân thiện, tôn trọng.) như thế nào khi cần thiết? Làm sao để biết được người đối thoại đang có thái độ như thế nào?. Cuối cùng, năng lực chiến lược là khả năng đàm phán về mặt ngữ nghĩa, khả năng sử dụng các chiến lược giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để nhận diện và giải quyết những sự đụng độ trong giao tiếp, để lấp đầy những khoảng trống tri thức về ngôn ngữ trong cảnh huống.
Năng lực chiến lược đặt ra những câu hỏi như: Làm thế nào để biết lời nói của mình đã bị hiểu sai và khi đó cần phải nói gì? Cần phải làm gì để diễn đạt ý tưởng của mình nếu không biết từ ngữ cụ thể dùng để diễn đạt nó là gì?. Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cho rằng năm năng lực trên quá phức tạp và rất khó triển khai trong chương trình giáo dục phổ thông. Hơn nữa, “năng lực hành động lời nói” chưa đầy đủ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) trong giao tiếp còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói).
Còn năng lực “chiến lược” thì chỉ cần thiết ở giai đoạn đầu khi chưa nắm vững ngôn ngữ đối với người học ngoại ngữ hoặc học ngoại ngữ thứ hai (ví dụ người dân tộc ít người học tiếng Việt). Bởi vậy, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất quan niệm năng lực giao tiếp bao gồm: - Năng lực ngôn ngữ (tương đương với hai năng lực đầu tiên: năng lực ngôn ngữ và năng lực diễn ngôn). - Năng lực hoạt động lời nói (đọc, nghe, nói, viết) phù hợp với ngữ 13 cảnh, đạt hiệu quả. - Năng lực văn hóa xã hội.
Trong luận văn này chúng tôi theo quan niệm phổ biến trên đây. NLGT là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả. Dạy học phát triển năng lực giao tiếp Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: giao tiếp là một phần quan trọng và cũng là nền tảng của giáo dục. Dạy học phát triển NLGT là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa NLGT của người học, trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy.
Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hát triển toàn diện năng lực của người học trên nguyên lý: - Học đi đôi với hành; - Lí luận gắn với thực tiễn; - Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình, xã hội. Để giúp hiểu rõ hơn bản chất của dạy học phát triển NLGT, chúng tôi xin làm phép so sánh giữa dạy học định hướng nội dung với dạy học theo hướng phát triển NLGT: Nếu dạy học định hướng nội dung đề cao mặt “Học để nắm tri thức” thì dạy học phát triển NLGT cho HS đề cao mặt “Học để hình thành kĩ năng sử dụng tiếng Việt”, tạo cơ hội để HS xem xét lời nói của mình, cách giao tiếp với người khác trong những tình huống cụ thể. Dạy học định hướng nội dung chủ trương dạy thực hành để nắm lý thuyết mà ít chú trọng thực hành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.