Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phong trào thể dục thể thao quần chúng. Chương 2: Thực trạng quản lý phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý phong trào TDTT quần chúng trên địa bàn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHONG TRÀO THỂ DỤC, THỂ THAO QUẦN CHÚNG VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ NGHI SƠN 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thể dục, thể thao Thể dục là một khái niệm, một thuật ngữ được quan tâm từ rất sớm và được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau và được hiểu theo hai nghĩa đó là: (1) Là sự giáo dục cơ thể, thần kinh, tinh thần; (2) Là giáo dục thể chất, một mặt của giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục. Thể thao được hiểu là “những hoạt động nhằm nâng cao thể lực của con người, thường được tổ chức thành những hình thức trò chơi, thi đấu theo những quy tắc nhất định” [24, tr. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn trong cuốn Lý luận và phương pháp thể dục thể thao do Nxb TDTT, Hà Nội xuất bản 2017 thì Thể dục thể thao được hiểu theo bốn cách tiếp cận sau: 1.
TDTT là một quá trình hoạt động nhằm tác động có chủ đích, có tổ chức theo những nhu cầu, lợi ích của con người (không phải ngẫu nhiên, bẩm sinh, vô thức). Không có vận động sẽ không có sự sống. Không có hoạt động (trong đó có hoạt động tập luyện) sẽ không thể phát triển thể chất tốt, chưa nói tới tối ưu. Đặc điểm cơ bản, chuyên biệt của hoạt động này là sự vận động tích cực của con người nhằm chủ yếu giữ gìn và phát triển sức lực hoạt động của họ.
Nhưng chi đem lại hiệu quả tốt nếu tập luyện đúng, sinh hoạt hợp lý và đảm bảo những điều kiện tối thiểu khác. TDTT còn là một tổng thể những giả có tính đối tượng rõ, những thành tựu vê vật chất, tinh thân và thê chất do xã hội tạo nên về mặt này. Ngày nay, những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ TDTT của môi nước là: trình độ sức khỏe và thể chất của nhân dân; tỉnh phổ cập của phong 14 trào TDTT quần chúng; trình độ thê thao nói chung vỏ kỷ lục thể thao nói riêng; các chủ trương, chỉnh sách, chế độ về TDTT và sự thực hiện; cơ sở trang thiết bị về TDTT. Thể thao nâng cao và TDTT quần chúng nói chung vê cơ bản là thống nhất, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau nhưng không phải là một, lúc nào cũng tương thích, cái này làm tốt thì tự nhiên cái kia sẽ tốt.
Tác dụng của TDTT chủ yếu mang tính chất nhân hóa, nhập nội (tác động ngay vào trong bản thân con người, biến thành thể lực, kỹ năng, ý chí, trí tuệ, niềm vui. Đổi tượng tác động chuyên biệt để đạt hiệu quả chinh là thể chất của con người. Tuy vậy, vẫn rất cần phối hợp tác động tốt với các bộ phận văn hóa, những mặt giáo dục khác trong chiến lược đào tạo con người nói chung, không nên để chúng tách biệt, “dâm chân” nhau, thậm chí bài xích, đối nghịch nhau. TDTT còn có tính lịch sử rõ n t.
Quá trình phát sinh và phát triển lâu dài của TDTT từng địa phương, quốc gia, thế giới đều gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, từ đó mà tạo nên truyền thống, n t độc đáo riêng. Tách rời điều kiện lịch sử cụ thể đó sẽ không lý giải được sự phát triển trong quá khứ cũng như dự đoán triển vọng. Như vậy, từ trên cơ sở những quan niệm, phân tích trên thì chúng ta có thể có thể xác định được khái niệm trung tâm, rộng và quan trọng nhất của lý luận và phương pháp TDTT và hiểu “TDTT là hoạt động của con người thông qua các bài tập luyện, những hình thức trò chơi, thi đấu được thực hiện theo những quy tắc đã được quy định bằng luật nhằm cải thiện và nâng cao sức khỏe, thể lực thể chất của con người, nâng cao thành tích thể thao; phát triển con người một cách toàn diện góp phần xây dựng đời sống văn hóa xã hội của nhân dân, ổn định an ninh, quốc phòng của đất nước [34, tr. Khái niệm thể dục thể thao quần chúng Trong các văn kiện đại hội của Đảng cũng đã khẳng định TDTT là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, 15 của từng địa phương.
Bởi vì TDTT có ý nghĩa xã hội quan trọng trong việc bảo vệ, nâng cao sức khỏe, phát triển và hoàn thiện thể chất con người đóng góp tích cực vào quá trình phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực; xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, lối sống văn minh hiện đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tiếp cận TDTT theo việc thực hiện những mục tiêu đề ra, Tác giả Hoàng Công Dân cho rằng: TDTT QC là hoạt động rèn luyện sức khỏe bằng các bài tập thể chất và tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao nhằm bảo vệ sức khỏe, hoàn thiện thể chất, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận nhân dân được gọi là TDTT quần chúng. Thể dục thể thao quần chúng mang tính tự nguyện của người tập và là một bộ phận lớn nhất của thể thao cho mọi người không bao gồm giáo dục thể chất trong trường học và TDTT trong lực lượng vũ trang [17, tr. Theo Luật TDTT sửa đổi năm 2018 quy định tại Điều 11 thì “Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể dục, thể thao tự nguyện nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho người tập” [29, tr.
Và nhiệm vụ của TDTT quần chúng chính là tuyên truyền vận động, rèn luyện thân thể, hướng dẫn tập luyện và giải trí; biểu diễn, giao lưu, tổ chức thi đấu, kiểm tra và đánh giá kết quả rèn luyện thân thể, tập luyện TDTT của mọi người. Thực tế phát triển TDTT quần chúng thực chất là quá trình tổ chức, vận động và hướng dẫn với nhiều hình thức, biện pháp đa dạng nhằm làm cho hoạt động này trở thành thói quen, nếp sống của đông đảo nhân dân. Do đó việc phát triển TDTT quần chúng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng của TDTT. Trong đó cần chú ý đến TDTT trường học vì đây là cốt lõi của chiến lược phát triển TDTT của nước ta [17].
Đồng thời, phong trào TDTT quần chúng chính là cơ sở để phát triển thể thao thành tích cao. Song chúng ta cũng 16 phải hiểu rằng không phải cứ có phong trào TDTT rộng rãi quy mô lớn thì sẽ có lực lượng vận động viên đông đảo, có thành tích thể thao cao và ngược lại. Bởi vì thực tế cho chúng ta thấy rằng bên cạnh những mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau thì TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao vẫn là hai lĩnh vực có tính độc lập tương đối. Mỗi lĩnh vực có đối tượng riêng và bị chi phối bởi các quy luật đặc thù của nó.
Như vậy với mục đích rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, thư giãn giải trí và phòng, chống bệnh của đối tượng khi tham gia hoạt động luyện tập TDTT ở nhiều độ tuổi từ mầm non đến người cao tuổi thì : TDTT quần chúng là hoạt động tập luyện và thi đấu thu hút đông đảo quần chúng tham gia tập luyện. Kết quả của nó là một trong các chỉ tiêu về dân trí, hạnh phúc của người dân và sự phồn vinh của xã hội. Chính điều đó đã xuất hiện khái niệm thể thao cho mọi người (Sport for all) trên thế giới và Việt Nam. Xét về nội hàm của khái niệm này thì thực chất là khái niệm TDTT quần chúng mà chúng ta đang sử dụng hiện nay [5].
Khái niệm về quản lý phong trào thể dục, thể thao quần chúng Trong khoa học tự nhiên, khái niệm về quản lý được hiểu là “sự điều khiển, định hướng hoặc chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình và căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt được mục đích đã định trước” [18, tr. Tiếp cận quản lý theo việc thực hiện những mục tiêu đề ra, Tác giả Harold Koontz cho rằng: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của các nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chức về quản lý là một khoa học [21, tr.
17 Ông cũng cho rằng trong xã hội có ba loại hình quản lý: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật, quản lý xã hội loài người, trong đó quản lý trong xã hội chính là quản lý con người. Theo Các Mác theo hướng tiếp cận xã hội học thì lại hiểu quản lý xã hội được coi là chức năng đặc biệt. Nó được sinh ra từ tính chất xã hội lao động và bất kỳ một xã hội hay cộng đồng nào dù quy mô nhỏ hay lớn thì cũng cần có sự quản lý. Do đó ở khía cạnh quản lý xã hội thì khái niệm quản lý chính là: Sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được tới mục đích, đúng ý của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.
Ở khía cạnh này, quản lý xã hội bao gồm các yếu tố: Chủ thể (con người và cơ quan tổ chức của con người) với hoạt động quản lý; khách thể (hành vi và hoạt động của con người) với hoạt động bị quản lý và mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể. Vì vậy, quản lý xã hội nói chung hoặc quản lý một lĩnh vực xã hội cụ thể cũng cần tôn trọng những nguyên tắc để đảm bảo cho từng cá nhân phát triển trong đó. Trên cơ sở những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng: Quản lý TDTT là hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước (từ trung ương đến địa phương ) đối với các lĩnh vực thể thao.