CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN Xét về phạm vi sử dụng, thuật ngữ rõ ràng có phạm vi sử dụng hẹp, gắn liền với một nội dung khoa học nào đó. Chúng thường biểu thị một khái niệm lý thuyết chung , cụ thể hay trừu tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định. Và như vậy, cũng có thể nói được là chúng gắn liền với con người sử dụng. Tuy nhiên, vấn đề không phải đơn giản như thế.
Thuật ngữ khoa học với tư cách là một tiểu hệ thống đối lập với từ ngữ sinh hoạt hằng ngày. Ở bình diện hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa có ít nhiều khác biệt so với từ ngữ bình thường. Trước khi đi vào mô tả cụ thể, chúng tôi sẽ tổng quan một số vấn đề về lý thuyết. Định nghĩa Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, thuật ngữ (term) được định nghĩa là từ ngữ biểu thị một khái niệm, xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định; còn gọi là danh từ khoa học, chuyên ngữ hay chuyên danh.1599] Theo Ông Đỗ Hữu Châu, thuật ngữ khoa học, kỹ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm… trong những ngành kỹ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội.639] Theo Ông Nguyễn Thiện Giáp, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.
Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người. Nó có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng.221] Theo Ông Nguyễn Văn Tu, thuật ngữ là bộ phận từ của một ngôn ngữ biểu đạt các khái niệm khoa học. Thuật ngữ là những từ và những cụm từ chỉ những khái niệm của một ngành khoa học, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó…[36 ,tr.
204] Trong tự điển Oxford, thuật ngữ được định nghĩa là từ hay cụm từ dùng để gọi tên sự vật, nhất là khi sự vật này liên quan đến các lĩnh vực chuyên biệt.(Term is a word or phrase used as the name of something, especially one connected with a particular type of language.1583] Thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng… có thực trong thực tế. Ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong tư duy, trong giao tiếp của ngành học hữu quan. Chúng có thể tập hợp thành những khái niệm gần nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau thành từng nhóm. Mỗi nhóm cũng làm một “hệ thống” khái niệm.
Một hệ thống lớn lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ. Trong mỗi hệ thống khái niệm có thể có một khái niệm chính bao trùm hoặc làm trung tâm tập hợp những khái niệm khác thành cụm. Lấy ví dụ trong những môn thể thao, ta có những hệ thống thuật ngữ về kỹ thuật thi đấu, về tổ chức, điều lệ,. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập.
Việc cấu tạo theo phương thức thêm thành tố phụ vào một thành tố chính, trong đó thành tố chính mang nghĩa khái quát chỉ tổng loại, thành tố phụ hạn định nghĩa của thành tố chính chỉ loại cụ thể, là phương thức thường gặp nhất. Ví dụ: bóng / bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng ném…. Trong tiếng Anh, việc thêm các yếu tố vào thuật ngữ này cũng được thực hiện theo hình thức từ ghép hay cụm từ. Ví dụ: ball / football, volleyball, basketball, handball….
Các nhà ngôn ngữ học Nga thường nhấn mạnh đến tính lý do của thuật ngữ. Nói cách khác, trong phạm vi từ ngữ bình thường, mối quan hệ giữa từ và sở chỉ là không có lý do, còn trong thuật ngữ thì ngược lại. Một thuật ngữ bền vững là một thuật ngữ sử dụng các thuộc tính nổi trội để định danh đối tượng. Và phần lớn các thuật ngữ trong nhiều ngành khoa học khác nhau đều dùng cách đặc trưng này.
Đến đây, chúng tôi có thể xác định khái niệm thuật ngữ như sau: là từ hay cụm từ chuyên môn, được sử dụng trong hoạt động chuyên ngành. Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ sở của mọi ngôn ngữ dùng cho mục đích chuyên môn, nó là sự biểu đạt bằng từ ngữ một khái niệm của một hệ thống khái niệm thuộc một lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhất định. Thuật ngữ tiếng Việt 1. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ Theo Đề Cương Văn hóa (1943), Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương xây dựng một nền văn hóa theo phương châm khoa học , dân tộc, đại chúng.
Hiện nay, khi xác định tính chuẩn mực của thuật ngữ, có nhiều ý kiến rất khác nhau. Phần sau đây, chúng tôi sẽ tổng hợp một số đặc điểm nổi bật và được nhiều người công nhận. Tính chính xác Mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm được biểu hiện trong các thuật ngữ. Các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường chỉ là các khái niệm thông thường, còn các khái niệm được biểu hiện trong các thuật ngữ là các khái niệm chính xác, các định nghĩa.
Muốn đạt được tính chất khoa học, trước tiên thuật ngữ phải bảo đảm được sự chính xác , rõ ràng. Một thuật ngữ chính xác phải thể hiện nội dung khoa học một cách rõ ràng mạch lạc. Mức chính xác khoa học yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm thể hiện. Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai lầm hay nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác.
Khi đề cập đến vấn đề cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ, ta phải chú ý đến mặt quy ước xã hội – quy ước giữa người này với người khác và tất nhiên cả tính lịch sử trong yêu cầu chính xác của nó. Giữa cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tất nhiên phải có sự phù hợp nhất định. Lấy từ ‘bóng’ trong tiếng Việt làm ví dụ, ta thấy từ này có một hình thức duy nhất nhưng mang nhiều khái niệm có yếu tố xã hội và khoa học. TỪ HÌNH NỘI DUNG TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG THỨC TIẾNG ANH BÓNG BÓNG1 Hình in trên mặt nền do Shadow P [ Old English ánh sáng chiếu rọi vào vật sceaduwe, form of sceadu< gì tạo nên.
Indo-European, "darkness"] BÓNG2 Hồn người chết hiện về A ghost / phantom [ Old P nhập vào xác người nào đó, English gāst < WGermanic] theo mê tín. BÓNG3 Bầu thuỷ tinh chân không A lamp [12th century. Via P hay có khí trơ, có dây kim French lampe < Latin lampas loại, khi dòng điện đi qua < Greek, "torch" < lampein thì phát sáng. "to shine"] BÓNG4 Quả cầu rỗng bằng cao su A ball [13th century.
< Old P hay nhựa dùng làm đồ chơi Norse böllr or assumed Old thể thao hay đồ chơi của English beall < Germanic] con trẻ.179, Đại từ điển Tiếng © 1993-2008 Microsoft Việt, NXB Văn Hóa-Thông Corporation.) Với ví dụ trên, từ “bóng1”và “bóng 2” là từ ngữ xã hội, “bóng1” và “bóng3” là thuật ngữ vật P P P P P P P P lý, “bóng4” là thuật ngữ thể thao. P P Trong một hệ thống, thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra thì người nghe hay người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm ứng với nó mà thôi. Tính chính xác về ngữ nghĩa làm cho thuật ngữ tự thân không mang ý nghĩa biểu thái. Tính chính xác cũng loại trừ tính nhiều nghĩa của thuật ngữ.Nói cách khác, mổi thuật ngữ chỉ có một giá trị duy nhất, thể hiện một khái niệm duy nhất.
Muốn đảm bảo tính chính xác rõ ràng của mỗi thuật ngữ trong mỗi hệ thống thuật ngữ, phải cố gắng tiến tới nguyên tắc “mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ một khái niệm”. Nguyên tắc này không đòi hỏi phải xoá bỏ tất cả những hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa giữa những hệ thống thuật ngữ khác nhau, giữa những lĩnh vực khác nhau cũng như giữa lĩnh vực chuyên môn với các sinh hoạt thông thường do các hiện tượng này không phá vỡ tính hệ thống, tiêu chuẩn thứ hai của thuật ngữ. Tính hệ thống Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, vì tư duy con người chỉ có thể thực hiện thông qua ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là những ký hiệu ghi lại kết quả suy luận trừu tượng của tư duy. Hệ thống khái niệm không thể nào tách rời khỏi hệ thống ký hiệu, vì “ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu biểu đạt khái niệm” [42, tr.
Nói một cách cụ thể hơn, thuật ngữ là “cái vỏ”, cái hình thức chứa đựng một nội dung khái niệm khoa học. Mỗi thuật ngữ đều bị quy định bởi trường từ vựng và trường khái niệm. Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các từ khác trong ngôn ngữ nói chung. Trường khái niệm có tính chất tất yếu hơn và cũng chỉ có thuật ngữ mới bị quy định bởi trường khái niệm.
Mỗi lĩnh vực khoa học hay ngành nghề chuyên môn đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn, thể hiện qua hệ thống các thuật ngữ của mình. Từ khái niệm bao trùm , có ngoại diện lớn nhất đến những khái niệm về chi tiết có ngoại diện nhỏ nhất được phân chia dần dần thành tầng, lớp. Ví dụ, trong các bộ môn thể thao tồn tại hệ thống các khái niệm - về tên gọi (bóng: bóng đá nam / nữ; chạy: chạy cự ly ngắn / dài; …) - về huấn luyện(nhảy: nhảy cao, nhảy xa; chuyền: chuyền cao/thấp…) - về thi đấu (trong nhà / ngoài trời; tài tử / chuyên nghiệp; …) - về kỹ thuật (độ cao của lưới nam / nữ; các loại lỗi…) - về thiết bị (sân; các loại bóng; huấn luyện / thi đấu…) - về tổ chức ( trọng tài chính / phụ / bàn; thời lượng; quan chức …). Mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định.
Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác trong cùng hệ thống. Các thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình mà luôn là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định. Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về hình thức của nó.