Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển thể dục thể thao và phát triển bóng đá 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển TDTT Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong tất cả các giai đoạn và thời kỳ phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sức khỏe, thể chất con người Việt Nam.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước, ngày 27/3/1946, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, trong đó Người nhấn mạnh vai trò của TDTT là “Dân cường thì Nước thịnh”. Ngay từ năm 1958, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ban hành Chỉ thị 106/CT-TW ngày 02 tháng 10 đã yêu cầu “Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải đặt nhiệm vụ lãnh đạo công tác TDTT trong kế hoạch công tác của địa phương hoặc đơn vị mình. Trong cấp ủy Đảng và chính quyền cần phân công người có năng lực phụ trách trực tiếp chỉ đạo công tác TDTT”. Sau ngày đất nước thống nhất, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã chủ trương phát triển mạnh mẽ TDTT, mở rộng đào tạo cán bộ, vận động viên TDTT, nghiên cứu khoa học và tăng cường cơ sở vật chất TDTT.
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, vấn đề đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một đòi hỏi khách quan và rất cấp thiết. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển con người Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên.
Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính luan an 6 sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao ở khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế”. Đường lối TDTT của Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng và chỉ đạo toàn diện các lĩnh vực của nền thể thao Cách mạng trong nhiều văn kiện của Đảng: Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ X (2006) [25], Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ XI (2011) [26], Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ XII (2016) [27] và các Chỉ thị của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, như Chỉ thị số 36-CT/TW năm 1994 về “Công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới” [4], và Nghị quyết số 08-NQ/TW (2011) của BCH Trung ương về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020” [5]. Luật Thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 [38], và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2018 [39] là văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác quản lý TDTT trong thời kỳ đổi mới, tạo hành lang pháp lý cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng hướng: vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 03 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020” [50]. Đây là lần đầu tiên Thể thao nước ta có một chiến lược phát triển rõ ràng với các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực thể thao cho mọi người, thể thao thành tích cao, hợp tác quốc tế về TDTT…Đối với Thể thao thành tích cao, mục tiêu của Chiến lược là: “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao, gắn kết đào tạo các tuyến, các lớp kế cận; thống nhất quản lý phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp theo hướng tiên tiến, bền vững, phù hợp với luan an 7 đặc điểm thể chất và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân; nâng cao thành tích thi đấu, giữ vững vị trí là một trong 3 quốc gia có thành tích đứng đầu khu vực Đông Nam Á, tiến tới thu hẹp khoảng cách trình độ đối với thể thao Châu Á và thế giới”. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển bóng đá Trong tất cả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác phát triển TDTT, khi nói về các môn thể thao trọng điểm, thì bóng đá là một trong những môn thể thao được quan tâm đặc biệt.
Bóng đá là môn thể thao đầu tiên và duy nhất đến nay được Chính phủ phê duyệt một chiến lược phát triển riêng cho một môn thể thao cụ thể. Ngày 08 tháng 3 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 419/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển bóng đá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [51]. Chiến lược đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu mà bóng đá Việt Nam cần đạt được theo từng giai đoạn, cụ thể như sau: 1.Quan điểm: a) Phát triển bóng đá theo hướng toàn diện và bền vững; chú trọng tới bóng đá phong trào, công tác tuyển chọn và đào tạo tài năng bóng đá. b) Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm phát huy nội lực, huy động rộng rãi các nguồn lực và sự tham gia của xã hội cho phát triển bóng đá, kết hợp với sự đầu tư có trọng tâm, trọng điểm của nhà nước.
c) Coi trọng việc nâng cao thành tích bóng đá ở cấp độ đội tuyển vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bóng đá, đồng thời là công cụ hữu hiệu để góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước trên trường quốc tế. d) Đổi mới phương thức quản lý, điều hành bóng đá theo cơ chế chuyên nghiệp trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước về bóng đá và phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong lĩnh vực bóng đá.Mục tiêu a) Đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, đào tạo tài năng bóng đá; gắn kết đào tạo các tuyến, các lớp vận động viên kế cận nhằm tạo nguồn cho các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp và các đội tuyển bóng đá quốc gia. b) Phát triển bóng đá thành tích cao theo định hướng chuyên nghiệp. c) Xây dựng Liên đoàn bóng đá Việt Nam và các tổ chức thành viên của Liên đoàn bóng đá Việt Nam trở thành những tổ chức mạnh, có khả năng đảm nhận quản lý, tổ chức hầu hết các hoạt động bóng đá ở nước ta.
d) Phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động bóng đá; sẵn sàng đăng cai tổ chức các giải bóng đá châu lục và thế giới. e) Hình thành, mở rộng thị trường kinh doanh, dịch vụ bóng đá, thị trường chuyển nhượng cầu thủ bóng đá. f) Đưa bóng đá nước ta phát triển, trở thành một trong những trung tâm bóng đá của khu vực và châu lục; đến năm 2030 đứng trong nhóm 10 quốc gia có nền bóng đá phát triển hàng đầu ở châu Á. Các chỉ tiêu chính a) Giai đoạn 2012 – 2020: - Đội tuyển quốc gia nam và U23 nam đoạt chức vô địch Đông Nam Á hoặc Sea Games (từ 1-2 lần); bóng đá nam đứng trong nhóm 15 quốc gia có nền bóng đá hàng đầu châu Á; bóng đá nữ trong nhóm 6 quốc gia mạnh khu vực châu Á.
- Hoàn thiện hệ thống thi đấu bóng đá quốc gia, bao gồm: giải vô địch quốc gia (V-League), Giải hạng nhất, Giải cúp quốc gia, Giải siêu cúp quốc gia, cúp Liên đoàn bóng đá Việt Nam, giả hạng nhì quốc gia, giải hạng ba quốc gia, các giải trẻ quốc gia (U21, U18, U15, U13, U11), giải bóng đá nữ, giải Futsal và giải bóng đá bãi biển. - Số lượng CLB bóng đá phong trào năm 2020 đạt 7.500 CLB - Số lượng vận động viên trẻ (U11 – U18) được đào tạo tập trung đạt từ luan an 9 4.000 vận động viên/ năm. - Liên đoàn bóng đá Việt Nam có từ 10 – 15 cán bộ tham gia ban chấp hành và các ban chuyên môn của Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC), có ít nhất 10 trọng tài chính, 20 trợ lý trọng tài đạt tiêu chuẩn trọng tài FIFA. b) Giao đoạn 2021 – 2030: -Bóng đá nam đứng trong nhóm 10 quốc gia có trình độ hàng đầu ở khu vực chấu Á, bóng đá nữ trong nhóm 6 quốc gia hàng đầu khu vực châu Á.
-Số lượng vận động viên bóng đá trẻ (U11 – U18) được đào tạo tập trung đến năm 2030 đạt trên 6.000 vận động viên. - Liên đoàn bóng đá Việt Nam vững mạnh về tổ chức, tự chủ về kinh phí, đảm nhiệm hầu hết các hoạt động bóng đá, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Liên đoàn bóng đá. -Số lượng các câu lạc bộ bóng đá phong trào đến năm 2030 đạt trên 12.000 câu lạc bộ”. Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của bóng đá quốc gia.
Vì bóng đá không chỉ là môn thể thao đơn thuần, mà đồng thời bóng đá là công cụ hữu hiệu nâng cao thể chất cho thế hệ trẻ, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước trên trường quốc tế. Khái quát về xã hội hóa thể dục thể thao 1. Khái niệm về xã hội hóa Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, xã hội hóa là “làm cho tư liệu sản xuất của cá nhân trở thành của chung của xã hội”[32]. Theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997), xã hội hóa là “làm cho trở thành chung của xã hội.
Thí dụ xã hội hóa tư liệu sản xuất [59].