Luận văn thạc sĩ: Xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa môn bơi lội cho học sinh THCS Chu Văn An - Phan Thị Khánh Linh

Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy bơi lội ngoài khóa cho học sinh THCS Chu Văn An tại Cần Thơ. Phân tích phương pháp, kỹ năng và tác động phát triển

Trường đại học

Trường Đại học Thể dục Thể thao TP Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

140
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chương trình giảng dạy ngoại khóa bơi lội

Chương trình giảng dạy ngoại khóa môn bơi lội dành cho học sinh THCS Chu Văn An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ được xây dựng nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho học sinh thông qua hoạt động vận động dưới nước. Bơi lội là môn thể thao có giá trị giáo dục toàn diện, giúp phát triển thể lực, kỹ năng sinh tồn và tinh thần đồng đội. Tại trường THCS Chu Văn An, nhu cầu tham gia các hoạt động ngoại khóa môn bơi lội ngày càng tăng do môi trường sống ven sông Mê Kông đòi hỏi học sinh phải nắm vững kỹ năng bơi an toàn. Chương trình này không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn góp phần giáo dục ý thức phòng chống đuối nước, một vấn đề nghiêm trọng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nội dung chương trình bao gồm các bài học cơ bản từ khởi động, kỹ thuật bơi sải, bơi ếch đến các kỹ năng sinh tồn dưới nước, được thiết kế phù hợp với lứa tuổi 13-15.

1.1. Vai trò của giáo dục thể chất trong chương trình ngoại khóa

Giáo dục thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh thông qua các hoạt động vận động. Tại trường THCS Chu Văn An, chương trình ngoại khóa bơi lội được xem như giải pháp bổ trợ cho giáo dục chính khóa, giúp học sinh rèn luyện thể lực, cải thiện hệ hô hấp tuần hoàn và tăng cường sức đề kháng. Theo quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo dục thể chất ngoại khóa góp phần hình thành thói quen luyện tập thể dục thường xuyên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đặc biệt, bơi lội còn mang lại lợi ích về mặt tâm lý khi giúp học sinh giảm stress, tăng cường sự tự tin và tinh thần đoàn kết thông qua các hoạt động tập thể.

1.2. Đặc điểm phát triển thể lực học sinh THCS tại Cần Thơ

Học sinh THCS tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ có đặc điểm thể lực đa dạng do điều kiện sinh hoạt ven sông và khí hậu nhiệt đới. Ở lứa tuổi 13-15, các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự linh hoạt và khả năng phối hợp vận động đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Theo nghiên cứu sinh lý học, đây là giai đoạn vàng để phát triển kỹ năng bơi lội do cơ thể có khả năng thích ứng nhanh với môi trường nước. Tuy nhiên, sự thiếu hụt các hoạt động thể chất thường xuyên dẫn đến nguy cơ béo phì và suy giảm sức khỏe. Chương trình ngoại khóa bơi lội tại trường Chu Văn An nhằm khắc phục tình trạng này bằng cách cung cấp môi trường luyện tập an toàn và chuyên nghiệp.

II. Phân tích nhu cầu và thực trạng giáo dục bơi lội tại trường THCS Chu Văn An

Thực trạng giáo dục bơi lội tại trường THCS Chu Văn An cho thấy nhu cầu tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh rất cao, song nguồn lực đào tạo và cơ sở vật chất còn hạn chế. Khảo sát năm 2020 tại quận Ninh Kiều cho thấy 78% học sinh chưa biết bơi hoặc bơi chưa đạt tiêu chuẩn an toàn, trong khi nguy cơ đuối nước tại khu vực sông nước là rất lớn. Chương trình ngoại khóa hiện nay chủ yếu tập trung vào các môn thể thao trên cạn, thiếu sự đầu tư vào cơ sở bể bơi và giáo viên có chuyên môn bơi lội. Bên cạnh đó, nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của bơi lội còn thấp, dẫn đến tỷ lệ tham gia hoạt động ngoại khóa thấp. Những hạn chế này đòi hỏi sự can thiệp từ phía nhà trường và chính quyền địa phương để xây dựng chương trình bơi lội toàn diện, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về an toàn sinh mạng và phát triển thể chất cho học sinh.

2.1. Những rào cản trong triển khai chương trình bơi lội ngoại khóa

Ba rào cản chính ảnh hưởng đến việc triển khai chương trình bơi lội ngoại khóa tại trường Chu Văn An gồm: thiếu cơ sở vật chất (chỉ 1 bể bơi công cộng trong quận), thiếu giáo viên có chuyên môn bơi lội (tỷ lệ 1 giáo viên/100 học sinh), và thiếu sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chính quyền. Theo khảo sát, 65% học sinh mong muốn tham gia nhưng không có điều kiện do khoảng cách địa lý đến bể bơi. Ngoài ra, chi phí thuê bể bơi tư nhân cao cũng là trở ngại lớn đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Những rào cản này đòi hỏi sự đầu tư từ phía nhà nước và xã hội hóa giáo dục thể chất để đảm bảo quyền tiếp cận công bằng cho mọi học sinh.

2.2. Đánh giá hiệu quả giáo dục thể chất hiện tại

Hiệu quả giáo dục thể chất tại trường Chu Văn An được đánh giá thông qua tỷ lệ học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa, kết quả kiểm tra thể lực và ý thức phòng chống đuối nước. Theo báo cáo năm 2020, tỷ lệ học sinh đạt chuẩn thể lực chỉ đạt 62%, thấp hơn mức trung bình toàn quốc (75%). Đặc biệt, kỹ năng sinh tồn dưới nước của học sinh hầu như chưa được đào tạo, dẫn đến nguy cơ tai nạn cao. Chất lượng giáo dục thể chất cũng bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt giáo án chuyên biệt cho hoạt động ngoại khóa. Những đánh giá này khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng chương trình bơi lội ngoại khóa bài bản, gắn liền với mục tiêu phát triển thể chất và an toàn học đường.

III. Giải pháp xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa bơi lội

Để xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa bơi lội hiệu quả tại trường THCS Chu Văn An, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và nội dung chương trình. Trước tiên, nhà trường phối hợp với chính quyền quận Ninh Kiều đầu tư xây dựng bể bơi tiêu chuẩn tại khu vực trường hoặc thuê bể bơi công cộng với giá ưu đãi. Song song đó, tuyển dụng và đào tạo giáo viên bơi lội chuyên nghiệp thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn. Nội dung chương trình được thiết kế theo ba giai đoạn: khởi động (4 tuần), kỹ thuật cơ bản (8 tuần) và nâng cao (4 tuần), với sự kết hợp giữa lý thuyết an toàn dưới nước và thực hành. Chương trình cũng tích hợp các hoạt động ngoại khóa đa dạng như thi đấu bơi lội, giao lưu với các trường bạn để tăng tính hấp dẫn. Việc huy động sự tham gia của phụ huynh thông qua các buổi hội thảo cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bơi lội.

3.1. Nội dung chương trình giảng dạy theo từng giai đoạn

Nội dung chương trình được chia thành ba giai đoạn phù hợp với lứa tuổi học sinh. Giai đoạn khởi động (4 tuần) tập trung vào làm quen môi trường nước, kỹ năng thở dưới nước và khởi động an toàn. Giai đoạn kỹ thuật cơ bản (8 tuần) bao gồm các bài học về bơi sải, bơi ếch, kỹ thuật quay vòng và khởi động khởi động. Giai đoạn nâng cao (4 tuần) nâng cao kỹ năng bơi liên tục 25m, kỹ năng cứu hộ cơ bản và tham gia các hoạt động thi đấu nhỏ. Mỗi buổi học kéo dài 90 phút với tỷ lệ lý thuyết:thực hành là 30:70. Giáo án được xây dựng dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng bơi lội của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế.

3.2. Phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập

Phương pháp giảng dạy kết hợp giữa thuyết trình, thực hành và trò chơi nhằm tăng cường hứng thú học tập. Giáo viên sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như phao, ván bơi và dụng cụ nổi để tạo môi trường học tập an toàn. Đánh giá kết quả học tập thông qua ba hình thức: kiểm tra lý thuyết (30%), thực hành kỹ thuật (50%) và thái độ tham gia (20%). Học sinh được đánh giá theo thang điểm 10, với mức đạt từ 5 điểm trở lên. Kết quả đánh giá được công khai và trao đổi với phụ huynh định kỳ. Chương trình cũng áp dụng phương pháp đánh giá liên tục để điều chỉnh nội dung giảng dạy phù hợp với tiến độ của học sinh.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng chương trình

Sau hai năm triển khai thí điểm, chương trình giảng dạy ngoại khóa bơi lội tại trường THCS Chu Văn An đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao thể lực, kỹ năng sinh tồn và ý thức an toàn cho học sinh. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ học sinh biết bơi đạt 85%, giảm đáng kể nguy cơ đuối nước so với trước khi triển khai chương trình. Học sinh tham gia chương trình có sự cải thiện rõ rệt về sức bền, sức mạnh và khả năng phối hợp vận động. Chương trình cũng góp phần thay đổi nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của bơi lội trong giáo dục toàn diện. Dựa trên những kết quả tích cực, đề xuất mở rộng chương trình ra toàn quận Ninh Kiều thông qua việc huy động nguồn lực xã hội hóa và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Đồng thời, kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hướng dẫn chuẩn về giáo dục thể chất ngoại khóa, đặc biệt là môn bơi lội, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công bằng cho mọi học sinh.

4.1. Kết quả nghiên cứu và hiệu quả đạt được

Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình đã đạt được 85% mục tiêu đề ra, bao gồm tỷ lệ học sinh biết bơi, cải thiện thể lực và nâng cao ý thức an toàn. Đặc biệt, chương trình đã thu hút 90% học sinh đăng ký tham gia, vượt xa tỷ lệ 60% của các hoạt động ngoại khóa khác. Sự thành công này nhờ vào phương pháp giảng dạy linh hoạt, cơ sở vật chất được cải thiện và sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và chính quyền. Những kết quả này khẳng định tính khả thi của mô hình chương trình bơi lội ngoại khóa trong điều kiện thực tế tại TP Cần Thơ.

4.2. Định hướng ứng dụng và nhân rộng mô hình

Để nhân rộng mô hình, đề xuất thành lập trung tâm giáo dục thể chất ngoại khóa tại quận Ninh Kiều, kết hợp giữa nhà trường, chính quyền và doanh nghiệp. Trung tâm sẽ cung cấp dịch vụ đào tạo bơi lội cho học sinh các trường THCS trong quận với mức phí ưu đãi. Đồng thời, xây dựng kế hoạch đào tạo giáo viên bơi lội chuyên nghiệp thông qua hợp tác với các trường đại học thể dục thể thao. Chương trình cũng đề xuất đưa nội dung bơi lội vào giáo dục chính khóa tại các trường có điều kiện, nhằm đảm bảo tính bền vững. Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý chương trình, như ứng dụng đặt lịch học và theo dõi tiến độ, cũng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 quy định về TDTT trường học như sau:[29] - Điều 14 của pháp lệnh: “TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động TDTT ngoại khóa cho người học. GDTC trong trường học là chế độ GDTC bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện người học. Nhà nước khuyến khích hoạt động TDTT ngoại khóa trong nhà trường” [29]. - Điều 15 của pháp lệnh quy định: “Bộ giáo dục đào tạo phối hợp với Ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: xây dựng, chỉ đạo thực hiện chương trình GDTC.

Quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và đánh giá kết quả rèn luyện thân thể của người học. Đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng viên TDTT. Quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học” [29]. Tóm lại, qua những chỉ thị và Nghị quyết trên cho thấy: Đảng và Nhà nước rất coi trọng việc tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nhất là đối với tầng lớp học sinh, sinh viên.

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất 7 nước của thời đại hiện nay, việc giáo dục và phát triển thể chất là một trong những biện pháp tích cực nhất góp phần tăng cường và bảo vệ sức khỏe, cải tạo nòi giống … Đó cũng là vấn đề cốt lõi mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu, để góp phần xây dựng một đất nước “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” và phấn đấu đạt vị trí ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới trong tương lai.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường học. Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì nhất thiết phải coi công tác Giáo dục thể chất trong trường học. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán: Về mục tiêu công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa 9.

Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, giáo dục thể chất và thể thao trong trường học phải giải quyết ba nhiệm vụ: - Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ Nước nhà. - Cung cấp cho học sinh những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng 8 các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường và xã hội. Góp phần duy trì và cũng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, phát triển cơ thể hài hòa, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêu chuẩn thể lực qui định.

- Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của giáo dục thể chất là không ngừng nâng cao sức khỏe, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực cho sinh viên, Noovicop A.P (1993); khẳng định: “… thể lực còn là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình giáo dục thể chất”.[26] Nội dung chương trình; Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, các văn bản pháp luật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳng định, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay. Hai ngành Giáo dục- Đào tạo và TDTT đã thống nhất những nội dung, biện pháp và hợp đồng trách nhiệm chỉ đạo, nhằm thúc đẩy nhanh và nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên: “Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến nâng cao chất lượng GDTC”. Với nội dung phối hợp giữa hai ngành, Bộ GD & ĐT đã chỉ đạo các cấp giảng dạy thể dục nội khóa, theo chương trình kế hoạch có nề nếp, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các quy phạm đánh giá quá trình dạy – học thể dục, quy chế GDTC học sinh. Nghiên cứu và điều chỉnh chương trình thể dục các cấp, thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh.

Từng bước áp dụng thống nhất giữa các vùng, khu vực trên toàn quốc. Điều chỉnh và ban hành tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa cho từng cấp. Đảm bảo cơ sở vật chất tối thiểu để phục vụ việc thực hiện chương trình ngoại khóa, phát 9 động phong trào rộng khắp trong nhà trường với mục tiêu: “Mỗi học sinh biết chơi một môn thể thao”, chỉ đạo và cải tiến chương trình hình thức hoạt động TDTT ngoại khóa, mở rộng mạng lưới câu lạc bộ TDTT học sinh. Tập trung hỗ trợ về cán bộ, cơ sở vật chất để cũng cố, thành lập câu lạc bộ TDTT mới, thu hút nhiều học sinh tham gia tập luyện.[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày 29/04/1993 về công tác GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ Mầm non đến Đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, sinh viên”.

GDTC bao gồm nhiều hình thức có liên quan chặt chẽ với nhau. Giờ học thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình, giờ tự tập của học sinh, sinh viên, giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. Chương trình thể dục và các hình thức GDTC khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính và lứa tuổi. Hàng năm, sinh viên tự tập luyện thể thao ngoại khóa ở trường, ở nhà.

Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, sinh viên tập luyện thường xuyên, tổ chức các ngày hội thể thao của trường và xây dựng thành nề nếp truyền thống “Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy định của chương trình GDTC”.[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình GDTC trong các trường học theo quyết định số 203/QT – TDTT, ngày 23/1/1989, quyết định 3244/GT-DT ngày 12/01/1995 và số 1262/GT-ĐT ngày 12/04/1997.2 Giáo dục thể chất ở một số nước [7],[23] Bên cạnh sự khác biệt do truyền thống lịch sử và do cơ cấu quản lý Nhà nước và xã hội, chương trình giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học ở nhiều nước có những yếu tố cấu trúc và tổ chức tương tự. Nội dung chương trình thường bao gồm:[23] Các bài tập phát triển chung, các môn bóng, trò chơi vận động, bơi…. 10 Gần đây các bài tập thể dục và nhảy múa cũng được phổ biến. Giờ học lý thuyết riêng được đưa vào chương trình không chỉ nhằm bồi dưỡng kiến thức mà còn giáo dục sự ham thích, tính tự giác và kiên trì đối với tập luyện.

Thi đấu thể thao được các nhà khoa học coi là một trong yếu tố quan trọng của hệ thông giáo dục thể chất. Số giờ học thể dục ở mỗi nước khác nhau, nói chung quy định khoảng 3 – 4 giờ/tuần. Nhưng trong một số trường hợp, giáo viên có thể tự quy định số giờ học và thời gian mỗi buổi học. Điểm nổi bật là các nguyên tắc và phương pháp được vận dụng từ lý luận tập luyện TDTT.

Tập luyện vòng tròn là một trong các phương pháp chủ yếu được vận dụng. Việc luân phiên kết hợp giữa tập luyện, nghỉ ngơi, cường độ và tính xúc cảm trong tập luyện được chú trọng.[23] Việc GDTC của các nước rất coi trọng việc kiểm tra và đánh giá sức khỏe và kết quả học tập môn TD của học sinh, sinh viên. Trong hệ thống kiểm tra, vai trò quyết định không phải là các chỉ tiêu tuyệt đối mà là nhịp điệu tăng trưởng trình độ phát triển các tố chất vận động. Xu hướng đạt được các nhu cầu sau: Có tác dụng khuyến khích học sinh tập luyện để tự hoàn thiện.

Theo dõi được hiệu quả của chương trình và phương pháp giảng dạy, từ đó điều chỉnh và hợp lý hóa phù hợp với thực tế của từng đối tượng học sinh ở các vùng khác nhau.[7], [23] Đánh giá được hiệu quả làm việc của giáo viên TD, phát huy tính chủ động và sáng tạo của họ trong quá trình giảng dạy. Góp phần thống kê, theo dõi tình hình phát triển thể lực của học sinh ở quy mô tỉnh, thành phố, khu vực và quốc gia. Giờ học cũng được coi là hình thức cơ bản của GDTC. Những yêu cầu 11 quan trọng của giờ học là: - Đối xử cá biệt.

- Mật độ vận động cao. - Tính linh hoạt, tính hào hứng, tính giáo dục. - Hình thành kỹ năng và năng lực tự tập luyện. - Hình thức GDTC thông qua việc mở rộng các hoạt động TDTT tự nguyện của học sinh, sinh viên ngày càng được chú trọng.

Tất nhiên là có sự kết hợp chặt chẽ với các giờ học chính khóa. Sức khỏe là vốn quý của con người và con người là vốn quý của xã hội. Chăm lo cho con người, đầu tư cho con người thông qua công tác GDTC là chiến lược của mỗi một quốc gia trên thế giới 23.  Công tác GDTC tại Trường THCS Chu Văn An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Là một ngôi trường mới thành nhưng đây là một ngôi trường đào tạo học sinh khá tốt ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Trường THCS Chu Văn An quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ ngoài việc đào tạo phát triển về trí tuệ cho học sinh, việc phát triển giáo dục thể chất, nâng cao sức khỏe cũng được chú trọng và phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu. Từ những ngày đầu thành lập với cơ sở vật chất nghèo nàn, sân bãi chật hẹp, đội ngũ giáo viên GDTC còn thiếu, đến nay trường đã xây dựng cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh, có sân chơi, bãi tập, đảm bảo cho việc giảng dạy môn giáo dục thể chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ