CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VÈ MÔN ĐIÊN KINH I. KHÁI N IỆM CHUNG - “Điền kinh” là tên gọi được dịch từ tiếng Trung Quốc. Theo tiếng Trung Quốc “điền” có nghĩa là “ruộng”, “kinh” có nghĩa !à “đường”. “Điền kinh” là tên gọi chung của các môn thể thao được tiến hành trên “sân” và trên “đường”.
- Vì nhiều lý do, tên gọi “Điền kinh” chưa có sự thống nhất, nhưng ngày nay Việt Nam cũng như thế giới đều công nhận “Điền kinh” là môn thể thao bao gồm các nội dung đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp. Điền kinh chính thức được dùng ờ nước ta để biểu thị những hoạt động tập luyện và thi đấu ở trên sân và trên đường chạy. S ơ LƯỢC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIẺN Điền kinh là môn có lịch sử lâu đời so với nhiều môn thể thao khác. Đi bộ, chạy, nhảy là những hoạt động tự nhiên của con người.
Từ những hoạt động mục đích di chuyển để tim kiếm thức ăn, tự vệ, đến phòng chống thiên tai, vượt chướng ngại vật, hoạt động này ngày càng hoàn thiện, cùng với sự phát triển của xã hội loài người và dần dẩn trờ thành một 70 phương tiện giáo dục thể chất. Điền kinh là một môn thể thao có vị trí xứng đáng thu hút mọi người tham gia luyện tập. Các bài tập điền kinh đã được loài người sử dụng từ thời cổ Hy Lạp, song lịch sử phát triển cùa nó được ghi nhận trong cuộc thi đấu chính thức vào năm 776 trước Công nguyên. Đặc biệt năm 1896, Đại hội Olimpic được tái tổ chức theo chu kì 4 năm một lẩn; trong chương trình Đại hội, điền kinh có vị trí xứng đáng, đó là một kích thích mạnh mẽ để điền kinh phát triển trên toàn thế giới.
Năm 1912, Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư Quốc tế (International Amateur Athletic Federation; viết tẳt là IAAF ) được thành lập. Đây là tổ chức Quốc tế có chức nâng điều hành sự phát triển môn thể thao điền kinh trên toàn thế giới. Hiện nay Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế chuyền thành Hiệp hội quốc tế các liên đoàn điền kinh có hon 200 thành viên là các liên đoàn điền kinh quốc gia và các vùng lãnh thổ ờ các châu lực trong đó có Liên đoàn Điền kinh Việt Nam. Với nội dung rât phong phú và đa dạng, các bài tập điên kinh có vị trí chù yếu trong số bài tập nhằm phát triển thể lực, toàn diện.
Điền kinh chiếm vị trí quan trọng trong chương trình thi đấu của các đại hội Olympic quốc tế và trong đời sống văn hoá thể thao nhân loại. Trong các trường Đại học, Cao đẳng và dạy nghề, trong chương trinh giáo dục thể chất điền kinh là một nội dung giảng dạy quan trọng và không thể thiếu được. Đó là một môn 71 khoa học với đẩy đủ cơ sờ lý luận, cơ sờ thực tiễn và và phương pháp giảng dạy, huấn luyện. NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI MÔN ĐIÊN KINH 3.
Nội dung Nội dung của điền kinh rất phong phú, nó bao gồm hầu hết các hoạt động cơ bản và quen thuộc cùa con nguới: đi, chạy, nhảy, ném, đẩy và phối hợp các hoạt động đó - nhiều môn phối hợp Chính do vậy, điền kinh là mòn thể thao cơ bản có tác dụng rèn luyện, phát triển cơ thể toàn diện và từng mặt cho người tập và là môn thể thao không thể thiếu đối với vận động viên ờ bất kỳ môn thể thao nào, điền kinh còn được gọi là môn thể thao “Nữ hoàng”. Trong chương trinh Giáo dục thể chất các trường Đại học và Cao đẳng, điền kinh chiếm một vị trí đáng kể, tuy nhiên do thời gian học có hạn, điều kiện tập luyện hạn chế cho nên nội dung học chỉ làm quen VỚI một số môn cơ bản nhất của điền kinh. Đó là: chạy cự ly ngắn, nhảy cao và nhảy xa. Như vậy, có thể hiểu điền kinh là một môn thể thao bao gồm các nội dung: đi bộ, chảy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp.
Phân loại Điền kinh phân loại theo hai cách chủ yếu: * c ách thứ nhất, phân loại theo nội dung Đi bộ - Chạy - Nhảy - Ném đẩy - Nhiều môn phối hợp * Cách thứ hai, phân loại theo tính chất hoạt động: Các môn hoạt động có chu kỳ như đi bộ, chạy và hoạt động không chu kỷ như nhảy, ném đẩy, và các môn phối hợp. Trong mỗi nội dung có rất nhiều các mòn cụ thể được phân biệt theo cự ly hoặc theo đặc điểm vận động 72 CÁC NỘI DUNG THI ĐÁU MÔN ĐIỀN KINH Ngoài tròi Trong nhà Nội dung thi Nam Nữ Nam Nữ 1 20 km + + 5 km 3 km 1. Đi bộ thể thao 2 50 km + + 3 100m + + 60m 60m 4 200m + + + + 5 400m + + + + 6 800m + + + + 2. Chạy 7 1500m + + + + 8 3000m + + + 9 5000m + + 10 10000m + + 11 42,195 km + + 12 100m + 60m 60m Chạy vượt rào 13 110m + 14 400m + + Vượt chướng ngại vật 15 3000m + + 16 4*100m + + Chạy tiếp sức 17 4*400m + + + + 18 Nhảy cao + + + + 3.
Nhảy 19 Nhảy sào + + + + 20 Nhảy xa + + + + 21 Nhảy 3 bước + + + + 22 Ném lao + + 23 Ném đĩa + + 4. Ném đẩy 24 Ném tạ xích + + 25 Đẩy tạ + + + + 5. Nhiều môn phối 26 7 môn phối hợp + họp 27 10 môn phối hợp + 73 IV. Ý NGHĨA VÀ VỊ TRÍ MÔN ĐIÊN KINH TRONG HỆ THÔNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT (GDTC) Tập luyện điền kinh một cách có hệ thống và khoa học từ lâu đã được các nhà khoa học khẳng định là có tác dụng tốt trong việc tăng cường và củng cố sức khỏe cho mọi người.
Một người tập đi bộ hoặc chạy thường xuyên, có tim co bóp khỏe hon, thành mạch co giãn tốt hom, hô hấp sâu hơn người không tập luyện một cách rõ rệt. Các bài tập điển kinh chẳng những có tác dụng tốt đối với sức khỏe mà còn là cơ sờ để phát triển thể lực toàn diện, tạo điều kiện để nâng cao thành tích các môn thể thao khác. Ngày nay, điền kinh là một trong những môn thể thao cơ bản của nước ta, đặc biệt giừ vị trí chủ yếu trong chương trình GDTC ờ trong tất cả các cấp học từ Phổ thòng đến Đại học, trong chương trình huấn luyện thể lực cho lực lượng vũ trang nhân dân và trong chương trình thể thao cho mọi người. Nhiệm vụ cụ thể của các giờ học GDTC trong các trường Đại học & Cao đẳng là giáo dục cho sinh viên hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về thể dục thể thao, về những môn thể thao quần chúng và trên cơ sở đó phát triển thể lực toàn diện, củng cố sức khỏe cho các em.
Trong số những bài tập nhằm phát triển toàn diện thể lực, các bài tập điền kinh đóng vai trò chù yếu. Những hỉnh thức tập luyện như: chạy, nhảy, ném được đưa vào nội dung trong từng giờ học, trong chương trình học GDTC. Và trong các giải thể thao, hội thao sinh viên khỏe, những bài tập điền kinh vẫn chiếm vị trí quan trọng không thể thiếu được. Rõ ràng, tập luyện điền kinh tốt tạo điều kiện cho sinh viên đạt được thành tích cao trong nhũng môn thể thao khác.
Học tập tốt môn điền kinh giúp cho sinh viên phát triển đều đặn những nhóm cơ chủ yếu, tạo điểu kiện hình thành tư thế đúng, điều chình trọng lượng cơ thể. Ngoài ra tập luyện thường xuyên còn góp phần rèn luyện ý chí, giáo dục ý thức khắc phục khó khăn. Những tố chất vận động như tính mềm dẻo, sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng khéo léo được phát triển. Hiện nay, các bài tập điền kinh không những đã trờ thành nội dung hấp dẫn cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng mà còn phổ cập cho tất cả mọi người dân trên toàn quốc tham gia tập luyện.
74 CHƯƠNG 2 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT MỘT SÓ MÔN ĐIÊN KINH Kỹ thuật các môn điên kinh cẩn phải hợp lý về phuơng diện sinh cơ học (phương hướng, biên độ, nhịp điệu, tốc độ động tác.), phải thuận lợi nhất cho các vận động viên thể hiện sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ linh hoạt trong các khớp, phải tối ưu về mặt chức năng tâm lý. Một động tác toàn vẹn như chạy, nhảy có thể chia thành các giai đoạn (thí dụ như chạy đà, giậm nhảy.) Mỗi giai đoạn lại gồm nhiều bộ phận cấu thành (thí dụ như bước đà.) và các thời điểm xác định tư thế riêng của cơ thể vận động viên (thời điểm đạp sau trong chạy. Sự phân chia như vậy nhằm mục đích thuận lợi cho việc mô tả và phân tích kỹ thuật để giảng dạy động tác có hiệu quả. NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT CÁC MÔN CHẠY Một chu kỳ trong chạy: Dù chạy với bất kì tốc độ nào và ờ cự ly nào đều là việc lặp lại các chu kỉ gồm 2 bước đơn: Chu kì được bắt đầu ! I I î I t I từ khi chân trái chạm đất rồi chân ị ị Ị Ị ỊỊ ị Ị Ị phải chạm đất (bước 1) rồi chân trái lại chạm đất (bước 2) - kết Á4 ẨM i thúc một chu ki.
Trong mỗi chu kì như vậy chúng ta thấy có 2 lần cơ thể hoàn toàn bay trên không và có 2 lẩn cơ thể chạm đất bầng một chân, mỗi chân 1 lẩn (Hinh n ir h 1 75 1. Hoạt động của chân Khi chạy mỗi chân luân phiên chống và đưa lăng (khi cả hai chân cùng ở trên không thì cơ thể bay). Khi chân chống trên mặt đất gồm: chống trước - thảng đứng và đạp sau - tuỳ theo vị trí của điểm đặt chân VỚI điểm dọi cùa trọng tâm cơ thể (TTCT) để xác định các tình huống trên (Hinh 2). - Chống trước.
Chống trước được bắt đầu từ khi chân phía trước chạm đất, là khi điểm đặt chân còn ờ phía trước điểm dọi của TTCT. Khoảng cách giữa 2 điểm đó càng xa, lực cản do chống trước càng lớn, thời gian chuyển từ chống trước qua thẳng đứng để sang đạp sau càng lâu, làm cho tốc độ chạy giảm. Hình 2 - Thăng đứng: Là khi điểm đặt chân trùng với điểm dpi cùa TTCT - cũng là ihời điểm két thúc chống trước. Trong 1 chu kỳ, đây là lúc TTCT ờ điểm thấp nhất.
Thực ra đây chì là thời điểm chuyền từ chống trước sang đạp sau.