CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VÈ THẺ DỤC I. KHÁI NIỆM, S ơ LƯỢC LỊCH s ử MÔN THÊ DỤC 1. Khái niệm - Thể dục là một nội dung GDTC, là phương tiện có hiệu quả rèn luyện toàn diện. Trong GDTC, thể dục là một trong những nội dung chủ yếu, là phương tiện cơ bản góp phần vào việc rèn luyện con người.
- Thể dục được hiểu là hệ thống các bài tập thể chất đa dạng được lựa chọn và sử dụng theo các phương pháp khoa học nhằm phát triển hoàn thiện thể chất nâng cao năng lực vận động cùa con người. Sơ lược lịch sử -T ừ thời cồ đại, loài người đã biét áp dụng thể dục với các mực đích khác nhau (Trung Quốc, Án Độ đã áp dụng để chữa bệnh, ở Hy Lạp - La Mã dùng trong nghi lễ, những ngày hội. Cùng sự phát triển xã hội loài người, thể dục cũng phát triển nhằm đáp ứng yêu .cầu của đời sống xã hội. Cho đến nay thể dục là một môn thể thao chính thức của các đại hội thể thao, thế vận hội Olympic.
- Do trình độ thể lực và kĩ thuật ngày càng phát triển, phương pháp huấn luyện ngày càng cải tiến nên xu thế thể dục trên toàn thế giới cũng có nhiều thay đồi. Thể dục - Nội dung CO' bản của giáo dục thể chất - Nhiệm vụ chù yếu trong giờ lên lớp thể dục là giảng dạy các kỹ thuật vận động theo nội dung nào đó, nhưng cũng chính thông qua quá trình giảng dạy đó mà giáo dục tinh thẩn yêu nước, tính sáng tạo và kiên cường trong lao động, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thề. Như vậy, thể dục là một môn khoa học giáo dục, một nội dung giảng dạy bẳt buộc trong hệ thống giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường. - Thể dục là một bộ phận của khoa học GDTC.
Cơ sờ trước tiên cùa nó là lý luận, phương pháp giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin và các môn khoa học khác nhu Giáo dục học, Tâm lí học, Lí luận giáo dục thể chất, Sinh lí hpc, Giải phẫu và vệ sinh học. Khi nghiên cứu cơ sờ kĩ thuật và quá trình hình thành kĩ thuật các động tác thể dục, người ta phải sử dụng những lí luận của sinh cơ học và cơ học. - Thể dục có lí luận, có lịch sử phát triển, có những phương pháp và phương tiện tiến hành tổ chức học tập và giảng dạy riêng. Môn khoa học này đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện với những thành công trong ứng dụng vào đời song con người: làm tăng sức khoẻ và chữa bệnh, tạo nên những kỷ lục thề thao mới, xây dựng những kỹ năng thiết yếu cho lao động mọi ngành nghề - Thể dục là một phương tiện cơ bản trong hệ thống giáo dục thể chất, là một nội dung giáo dục trong các trường Phổ thông, Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
Nó góp phàn quan trọng đào tạo con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh thần II. PH Ư Ơ N G TIỆN VÀ N H IỆ M v ụ 2. Phưong tiện của thể dục - Cho phép tác động đến toàn bộ cơ thể hoặc chỉ tác động đến từng bộ phận cơ thể tuỳ theo mục đích tập luyện. Có các bài tập riêng cho từng bộ phận cơ thể như tay, chân, cồ, thân mình hoặc phối hợp nhiều bộ phận cùng tham gia hoạt động.
14 - Có thể thực hiện theo các phương hướng, theo các tốc độ và yêu cầu dùng sức khác nhau. - Có thể có hoặc không có dụng cụ cầm tay như gậy, dây, bóng, lụa. hoặc các dụng cụ nhằm tăng sức mạnh, sức nhanh hoặc sức bền của cơ bắp như bóng nhồi, bao cát, tạ tay, dây chun, lò xo. - Có thể thực hiện theo hình thức cá nhân hay phối hợp tập thể, thực hiện trên thảm, trên sân tập, trên các dụng cụ thể dục khác nhau.
Nhiệm vụ của thể dục - Thể dục là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng nhất của giáo dục thể chất nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất con người, chuẩn bị cho họ những điều kiện cần thiết để sống, học tập, lao động với chất lượng hiệu quả cao và sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. - Phát triển cân đoi hình thái, nâng cao và hoàn thiện chức năng của các hệ thống cơ quan cơ thể; nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ; hình thành và củng cố các kỹ nãng, kỹ xảo vận động cần thiết trong cuộc sống và trong hoạt động thi đấu chuyên môn cùa thể dục. - Góp phần giáo dục các phẩm chất chính trị, đạo đức, ý chí và lối sống phù hợp với yêu cẩu của xã hội. NỘI DƯNG, PHÂN LOẠI 3.
Nội dung - Bao gồm những bài tập đội hình, đội ngũ; bài tập phát triển chung, bài tập nhào lộn, bài tập thực dụng, các động tác trên dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể dục thể hình. Ngoài các bài tập trên, thể dục còn áp dụng rộng rãi các trò chơi vận động, các bài tập thể thao, các môn bóng, điền kinh nhằm phát triển một cách có chọn lọc đến hệ thống chức năng cơ thể cũng như tố chất thể lực của người tập. - Hệ thống các bài tập thể dục thường xuyên được hoàn thiện nhằm nâng cao hom nữa hiệu quả phát triển toàn diện cơ thể, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ sư phạm khác nhau trong GDTC. Phân loại Các bài tập thể dục vô cùng phong phú, đa dạng, nó xuất hiện do yêu cẩu cẩn thiết trong đời sống, có liên quan chặt chẽ đến những hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất, chiến đấu và đời sống hàng ngày.
Ngoài ra còn có những bài tập được sáng tạo do yêu cầu của thực tiễn cùa thể dục, thể thao. Dựa trên các cơ sờ khoa học, người ta chia thể dục ra làm các nhóm sau: + Nhóm thể dục nhàm mục đích sức khoẻ - văn hoá - xã hội Bao gồm Thể dục cơ bàn, thể dục đồng diễn, thế dục dưỡng sinh, thể dục thể hình, thể dục ứng dụng (Thể dục quân sự, thể dục lao động, thể dục bổ trợ thể thao, thể dục chữa bệnh). + Nhóm thể dục nhằm mục đích thể thao Bao gồm thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể dục nhào lộn, thế dục trên lưới bật, Sport aerobic và Bodybuilding. Trong đó, còn có môn thể dục lự do thuộc thể dục dụng cụ mà nội dung của nó là sự phối hợp các bài tập được lựa chọn từ thể dục cơ bàn, thế dục nghệ thuật, thế dục nhào lộn.
Ngoài các nội dung trên, trong thể dục người ta còn sử dụng các trò chơi vận động, tiếp sức và thi đấu. Những bài tập có tính trò chơi nhằm gây hứng thú, nâng cao khả năng vận động, rèn luyện các tố chất thề lực cho người tập. Cùng với sự phát triển của xã hội nhu cầu tập luyện TDTT cùa con người cũng ngày càng phong phú, chắc chắn sẽ xuất hiện những loại h ìn h thể dụ c m ói. C h ú n g ta SC căn cứ v ào cách p h â n loại trcn đ c x ếp c h ú n g vào nhóm thích hợp, đồng thời cũng có sự chuyển dịch một số loại hình thể dục thuộc nhóm sức khoẻ - vãn hoá - xã hội sang nhóm thể dục nhằm mục đích thể thao.
TÁC DỤNG TẬP LUYỆN MÔN THỂ DỤC 4. Đối vói hệ vận động Tác dụng đầu tiên cùa việc tập luyện môn thể dục là phát triển hệ thống cơ bấp và sức mạnh, tốc độ, làm tăng khả năng hưng phấn và tính linh hoạt của các quá trình thẩn kinh vận động. Ngoài ra, các động tác thể dục có 16 ảnh hường rất lớn đối với việc phát triển các tố chất khác như: sự mềm dẻo, khéo léo, sức bền và khả năng phản ứng nhanh trước những tinh huống đột ngột, bất ngờ 4. Đối vói hệ thần kinh Rèn luyện các quá trinh thân kinh, tăng cường khả năng hoạt động phối hợp nhịp điệu, khả năng điều khiển vận động căng thẳng và thà lòng đúng lúc nhằm đáp ứng yêu cẩu thực hiện kỹ thuật động tác trong các bài tập liên hợp.
Đối vói các cơ quan phân tích Tập luyện các động tác thể dục phức tạp có tác dụng rèn luyện các cơ quan phần tích, cơ quan tiền đinh (thăng bằng), phân tích vận động xúc giác, cảm giác về không gian thời gian, mức độ dùng sức cùa cơ. Các cơ quan cảm thụ bản thể được phát triển tốt, độ chính xác tinh vi trong phân tích các kích thích của cơ quan phân tích được nhàn lên, từ đó mà vận động viên thể dục có thể sửa chữa được động tác về mặt tư thế và nhịp điệu của động tác 4. Đổi vói các chức năng thực vật - Tập luyện chủ yếu là hoàn thiện được chức năng vận động, còn hoạt động cùa cơ quan nội tạng không chiếm vai trò quan trọng như một số môn thể thao (điền kinh, bơi lội.) Tuy nhiên cũng có những phản ứng thích nghi cùa các cơ quan nôi tang đối với những yêu cầu đặc biệt cùa môn thể dục. - Tiêu hao năng lượng: Vì thời gian thực hiện một bài tập thề dục dụng cụ ngắn nên tiêu hao năng lượng ít, nhưng số lẩn lặp lại trong một buổi tập nhiều nên năng lượng tiêu hao ờ vận động viên đẳng cấp cao cũng lên tới 4000 - 4500 cal.
Do ít tiêu hao năng lượng hom các môn chạy nên những biến đổi sinh hoá trong cơ và trong máu cũng ít hom. Những quá trình hoá học trong sự co cơ cũng ít biến đổi hom so với môn chạy. - Hô hấp và tuần hoàn: Nhiều động tác thể dục gây trờ ngại cho việc hô hấp và tuần hoàn, nhưng qua tập luyện những động tác đó, các phản xạ 17 hô hấp và tuân hoàn của người tập được rèn luyện và thích nghi. Ví dụ: Một số động tác muốn hoàn thành phải nín thờ, một số khác phải thờ bằng kiểu thờ bụng hoặc phải thở bằng kiểu ngực.
Người mới tập chưa thích nghi thi dễ bị rối loạn hô hấp, váng đầu hoa mắt, còn ờ vận động viên có trình độ thì phản xạ hô hâp được rèn luyện thích ứng. Cũng như vậy, hoạt động tuần hoàn của người mới tập không binh thường (động tác trổng chuối, quay vòng, nhào lộn.), nhưng thòng qua tập luyện hệ thống phản xạ phân phoi máu được điều chỉnh, hợp lí quá trinh tuần hoàn máu trong cơ thể.