CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Một số khái niệm liên quan đến luận án Để giải quyết nhiệm vụ của luận án, đề tài cần làm rõ một số khái niệm có liên quan như: TDTT quần chúng; phong trào TDTT quần chúng; các tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng; giải pháp trong quản lý. Khái niệm thể dục thể thao quần chúng Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện và thi đấu của nhân dân với mục đích rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, phục vụ trực tiếp công tác, học tập, lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chữa bệnh, nghỉ ngơi giải trí của các đối tượng mầm non đến người cao tuổi. Đối tượng của TDTT quần chúng là tất cả mọi người (kể cả người khuyết tật). Thể dục thể thao quần chúng là hình ảnh TDTT ở mỗi quốc gia, là một hoạt động rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia tập luyện.
Sản phẩm của nó là một trong các chỉ tiêu về dân trí, hạnh phúc của người dân và sự phồn của vinh xã hội [32]. Hiện nay, trên thế giới còn sử dụng khái niệm thể thao cho mọi người (Sport for all). Khi xem xét nội hàm của khái niệm này, song có thể nói về bản chất đó chính là TDTT quần chúng [36]. Tuy nhiên, ở Việt Nam trong Luật TDTT năm 2006 của Việt Nam còn sử dụng khái niệm “TDTT cho mọi người” [39].
Trong Luật xác định rõ “TDTT cho mọi người” bao gồm: TDTT quần chúng; GDTC và thể thao trong nhà trường; TDTT trong lực lượng vũ trang. Thực tế, có nhiều quan điểm cho rằng để chuẩn hóa và thống nhất các khái niệm này với thế giới cần phải có thời gian, công sức của các nhà lý luận TDTT, các nhà ngôn ngữ học. Trong thời điểm hiện tại chúng ta vẫn mặc nhiên chấp nhận sử dụng cụm từ “TDTT quần chúng”. Cũng tương đồng với Việt Nam, ở nước CHDCND Lào, TDTT quần chúng, GDTC và thể thao trường học, TDTT trong lực lượng vũ trang là những thành tố của thể thao cho mọi người.
Khi đánh giá hoạt động TDTT quần chúng trong toàn quốc sẽ bao gồm các hoạt động TDTT của 18 tỉnh, thành phố. Các chỉ 7 tiêu đánh giá hoạt động TDTT quần chúng được xác định theo đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh và thành phố [51]. Các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006) cho rằng: “Thể thao cơ sở (quần chúng) chỉ nhằm đạt trình độ phổ thông “phong trào”, chủ yếu để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, thể lực chung và giải trí, hồi phục, phục vụ cho hoạt động chính - lao động, học tập, công tác. Tác giả Phạm Đình Bẩm cho rằng: “TDTT quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn TDTT mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân, không phân biệt đối tượng, giới tính, tuổi tác, tôn giáo…” [5].
Theo Phạm Trọng Thanh: “TDTT quần chúng là những hoạt động tập thể mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân với nhiều nội dung và hình thức khác nhau, phù hợp với tâm lý, nguyện vọng, điều kiện, tập quán và nhu cầu của từng đối tượng” [44]. Tác giả Lương Kim Chung cho rằng: “TDTT quần chúng chỉ là hoạt động TDTT của mọi người, mọi lứa tuổi, đối tượng với nội dung phong phú, hình thức sinh động của công nhân, nông dân, cư dân đường phố, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên nhằm tăng cường sức khỏe làm mục đích chủ yếu …hoạt động mang tính nghiệp dư, tự nguyện làm phương thức cơ bản và tạo cơ hội để mọi người thực hiện quyền hoạt động TDTT, nên không có tính cưỡng chế…” [19]. Tại Điều 41, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định: “Nhà nước và xã hội phát triển nền TDTT dân tộc và nhân dân; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng. Từ những thực tế nêu trên cho thấy, mặc dù có nhiều các văn bản của Đảng, Nhà nước, cùng các tác giả trong và ngoài nước cho thấy, tồn tại nhiều cách hiểu về TDTT quần chúng, song đều thống nhất những điểm chung như: TDTT quần chúng là hoạt động tập luyện mang tính tự nguyện, nhằm đạt trình 8 độ phổ thông của đông đảo nhân dân, không phân biệt đối tượng, giới tính, tuổi tác, tôn giáo.
Mục tiêu quan trọng của TDTT quần chúng hướng tới động viên mọi người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên, đồng thời việc tập luyện phải mang lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống hàng ngày đó là duy trì và nâng cao sức khỏe. Hình thức tổ chức hoạt động TDTT quần chúng rất đa dạng, bao gồm: Các cá nhân tự tập luyện tại gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc; Tập luyện có tổ chức trong các CLB TDTT cơ sở, hoạt động TDTT tại các điểm vui chơi giải trí công cộng, các liên đoàn, hiệp hội thể thao quần chúng; Tham dự và tổ chức các giải thể thao, ngày hội Văn hóa - Thể thao, Đại hội TDTT các cấp; Hình thành các đội tuyển thể thao của đơn vị, địa phương để tham gia thi đấu các giải thể thao quần chúng từ các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, xã phường, thị trấn. Khái niệm phong trào TDTT quần chúng Theo Matveev L., Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Đồng Văn Triệu…, phong trào TDTT đó là một trào lưu xã hội (tự phát, tự động có tổ chức, rộng hẹp theo nhiều góc độ khác nhau), bao gồm nhiều người hoạt động hợp tác với nhau, nhằm chủ yếu, trực tiếp sử dụng, phổ biến và nâng cao những giá trị của TDTT [48], [50]… Trên cơ sở thực tiễn phát triển TDTT trong xã hội, xuất hiện và mở rộng gắn liền với giao lưu xã hội được gọi là “phong trào thể thao”. Ngày nay phong trào thể thao đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, trở thành một phong trào quốc tế của loài người.
Đó chính là phong trào Olympic và các hình thức khác của phong trào thể thao quốc tế. TDTT quần chúng (cơ sở) cho phép đạt trình độ phổ thông của “phong trào”, chủ yếu để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, thể lực chung và giải trí, hồi phục, phục vụ cho hoạt động chính - lao động, học tập quân sự [73]. Đồng thời, trong các hình thức của phong trào thể thao khu vực không bị mất đi bản sắc của các nền văn hóa quốc gia và được phát triển tuỳ theo đặc 9 điểm của sự hình thành xã hội. Sự tác động qua lại của quốc gia và quốc tế là một trong những nguồn gốc của sự tiến bộ trong thể thao [87].
Từ những quan điểm nếu trên, luận án cho rằng, phong trào TDTT quần chúng có tính chất xã hội tạo bởi hệ thống các cơ quan, tổ chức tình nguyện của quần chúng nhân dân, là hoạt động tổng hợp về vật chất và tinh thần nhằm tận dụng các chức năng đa dạng của TDTT theo hướng phát triển toàn dân tham gia hoạt động TDTT. Khái niệm tiêu chí đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng Thuật ngữ “tiêu chí” có nguồn gốc từ một từ Hy Lạp có nghĩa là “để phán xét”. Tiêu chí là sự đánh giá hoặc phân biệt,đồng thời còn được xem là một dấu hiệu, trên cơ sở đó hình thành sự đánh giá chất lượng của một đối tượng, một quá trình hay một thước đo cho sự đánh giá đó.Theo Từ điển mở Wiktionary, tiêu chí là tính chất, dấu hiệu để dựa vào mà phân biệt một vật, một khái niệm, để phê phán nhằm đánh giá [8]. Như vậy, luận án xác định tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng là những dấu hiệu, mà trên cơ sở đó cho phép đánh giá được chất lượng phong trào TDTT quần chúng của mỗi địa phương hoặc quốc gia.
Ở mỗi quốc gia đầu có những tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng, song những tiêu chí này ở các quốc gia về cơ bản là thống nhất với tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng của Ủy ban Olympic quốc tế (IOC). Ngoài ra, nhiều quốc gia còn đưa những tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng mang tính đặc thù dựa trên những đặc điểm điều kiện tự nhiên, cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/2019/TT-BVHTTDL quy định chi tiết việc đánh giá phong trào thể dục, thể thao quần chúng bằng các tiêu chí theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao. Thông tu này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 05/3/2019.
Theo đó, nội dung tiêu chí đánh giá phong trào TDTT quần chúng bao gồm [12]: (1) Tiêu chí số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên Người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên là người tập luyện mỗi tuần ít nhất 3 lần; mỗi lần tập luyện ít nhất 30 phút. Tiêu chí số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) của tổng số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên so với tổng số dân trên địa bàn. (2) Tiêu chí số gia đình thể thao Gia đình thể thao là hộ gia đình có tổng số thành viên tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên chiếm từ 50% trở lên tổng số thành viên trong gia đình. Tiêu chí số gia đình thể thao được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) của tổng số gia đình thể thao so với tổng số hộ gia đình trên địa bàn.
(3)Tiêu chí số cộng tác viên thể dục, thể thao Cộng tác viên thể dục, thể thao là người có trình độ chuyên môn thể dục, thể thao thực hiện nhiệm vụ vận động, tổ chức, hướng dẫn mọi người tập luyện thể dục, biểu diễn, thi đấu thể thao và tham gia phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Tiêu chí số cộng tác viên thể dục, thể thao được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) của tổng số cộng tác viên thể dục, thể thao so với tổng số dân trên địa bàn. (4) Tiêu chí số CLB thể thao Câu lạc bộ thể thao bao gồm: CLB thể thao cơ sở được thành lập và công nhận theo quy định của pháp luật, có chức năng tuyên truyền, vận động những người có cùng sở thích để tổ chức, phổ biến, hướng dẫn hoạt động thể dục, thể thao quần chúng nhằm thoả mãn nhu cầu rèn luyện thân thể, vui chơi giải trí, nâng cao sức khoẻ, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần và nâng cao thành tích thể thao cho người tập; Cơ sở kinh doanh hoạt động thể thao.