Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá trình độ tập luyện của nam vận động viên đua xe đạp lứa tuổi 13-15 một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu)" do nghiên cứu sinh Lê Anh Đức thực hiện tại Viện Khoa học Thể dục Thể thao (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Xuân Sinh và TS. Nguyễn Văn Trạch, bảo vệ năm 2017 thuộc chuyên ngành Huấn luyện thể thao (mã số: 62 14 01 04).
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh phát triển của thể thao thành tích cao Việt Nam sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), lần thứ VII (1991) và Chỉ thị 36-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương. Cùng với sự hình thành các trung tâm thể thao thành tích cao từ năm 1994, môn đua xe đạp đã đóng góp vào thành tích chung tại các kỳ SEA Games, tiêu biểu như các vận động viên Mai Công Hiếu, Trịnh Phát Đạt giành 6 huy chương (gồm 3 Huy chương Vàng và 3 Huy chương Đồng). Tuy nhiên, khoảng cách về trình độ tập luyện và thành tích thi đấu của vận động viên đua xe đạp Việt Nam so với khu vực và châu lục vẫn còn tồn tại. Theo Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đặt ra là phấn đấu đứng trong nhóm 15 quốc gia dẫn đầu châu Á, giữ vững vị trí tốp 3 khu vực Đông Nam Á và hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao bài bản. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc đánh giá khách quan, khoa học trình độ tập luyện nhằm điều chỉnh lượng vận động là yêu cầu đặt ra cho công tác huấn luyện.
Về khoảng trống nghiên cứu, ở Việt Nam thời điểm tác giả thực hiện đề tài, các công trình xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện chủ yếu tập trung vào các môn bơi lội, điền kinh, bóng rổ, thể dục dụng cụ. Đối với môn đua xe đạp, ngoài công trình năm 2005 của Nguyễn Ngọc Vũ nghiên cứu về đặc điểm thể hình của nữ vận động viên đua xe đạp, chưa có công trình nào nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá trình độ tập luyện cho nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn về trình độ tập luyện của nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 tại các tỉnh, thành phố miền Bắc; ứng dụng các phương pháp khoa học để lập hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá, phục vụ công tác tuyển chọn và huấn luyện.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Mục tiêu 1: Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện của nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 một số tỉnh, thành phố miền Bắc.
- Mục tiêu 2: Xây dựng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
- Mục tiêu 3: Kiểm chứng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 một số tỉnh, thành phố miền Bắc.
Giả thuyết khoa học của luận án xác định: Thành tích thể thao của vận động viên đua xe đạp đường trường phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố thể hình, chức năng cơ thể, thể lực, năng lực chuyên môn và phẩm chất tâm lý. Nếu xây dựng được thang điểm đánh giá chính xác trình độ tập luyện của vận động viên thì sẽ giúp cho huấn luyện viên điều chỉnh kế hoạch huấn luyện, từ đó nâng cao trình độ tập luyện và thành tích thi đấu của vận động viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá trình độ tập luyện của nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15.
- Khách thể nghiên cứu: Nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 thuộc giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tại một số tỉnh, thành phố miền Bắc Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các đơn vị, trung tâm đào tạo đua xe đạp thể thao tại một số tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai theo các giai đoạn tập luyện chuyên môn hóa ban đầu của vận động viên, hoàn thành bảo vệ năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các quan điểm phân chia giai đoạn huấn luyện nhiều năm và đánh giá trình độ tập luyện của các tác giả trong và ngoài nước:
Về quy trình huấn luyện nhiều năm:
- D. Harre phân chia quá trình đào tạo thành hai giai đoạn lớn: huấn luyện vận động viên trẻ (gồm huấn luyện ban đầu và chuyên môn hóa) và huấn luyện vận động viên cấp cao.
- V.P. Filin và V.G. Nabatnikova chia quá trình đào tạo vận động viên trẻ thành 3 giai đoạn: huấn luyện ban đầu, chuyên môn hóa (từ 9-10 tuổi) và hoàn thiện thể thao (từ 16 tuổi trở lên).
- L.P. Matveev xác định các giai đoạn: chuẩn bị thể thao sơ bộ, chuyên môn hóa bước đầu và hoàn thiện thể thao.
- M.G. Ozolin phân chia 4 giai đoạn đối với vận động viên chạy ngắn: huấn luyện ban đầu (từ 9 tuổi, kéo dài 3 năm), chuyên môn hóa ban đầu (từ 12-13 đến 15-16 tuổi), chuyên môn hóa sâu (từ 15-16 đến 18-19 tuổi) và hoàn thiện thể thao (từ 19 tuổi trở lên, đạt đỉnh cao lúc 22-28 tuổi).
- V.P. Filin và Điền Mạch Cửu phân định hệ thống huấn luyện nhiều năm cho môn xe đạp gồm 4 giai đoạn: huấn luyện thể thao sơ bộ (10-12 tuổi), chuyên môn hóa ban đầu (13-15 tuổi), chuyên môn hóa sâu (16-19 tuổi) và hoàn thiện thể thao (từ 19 tuổi trở lên).
- Tại Việt Nam: Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tấn Di Trọng chia thành 4 giai đoạn (sơ bộ, ban đầu/dự bị năng khiếu, chuyên môn hóa, hoàn thiện thể thao); Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn chia làm 3 giai đoạn (đào tạo ban đầu, thực hiện tối đa khả năng thể thao, duy trì thành tích); Nguyễn Ngọc Cừ và Bùi Quang Hải xác định giai đoạn chuyên môn hóa kéo dài 4-6 năm, cần đánh giá trình độ tập luyện cuối mỗi năm để sàng lọc các trường hợp phát dục sớm hoặc sức khỏe yếu.
Về khái niệm và quan điểm đánh giá trình độ tập luyện:
- Từ điển Thể dục Thể thao Trung Quốc (1991), Huỳnh Văn Hoa (1981), Tăng Phàn Huy (1992), Vương Kim Xán (2005) định nghĩa trình độ tập luyện là mức độ thích nghi sinh học của cơ thể với vận động, nâng cao năng lực chức năng cơ quan và khả năng điều tiết của hệ thần kinh trung ương, gọi chung hoạt động kiểm tra đánh giá là "chẩn đoán huấn luyện thể thao".
- A.D. Novikov xem trình độ tập luyện là năng lực tiềm tàng được biểu hiện ở mức độ chuẩn bị kỹ chiến thuật, thể lực, đạo đức và trí tuệ.
- V.M. Smirnov (1984) và V.G. Nabatnikova (1995) nhấn mạnh việc đánh giá thông qua mô hình hóa các mặt của thành tích thể thao dựa trên 10 nguyên tắc cơ bản phối hợp y sinh và sư phạm.
- D. Harre (1996) xác định trình độ tập luyện biểu hiện ở các yếu tố năng lực thể chất, phối hợp vận động, trí tuệ, kỹ xảo, chiến thuật và tâm lý dưới ảnh hưởng của lượng vận động tập luyện và thi đấu.
- Ở Việt Nam, Lê Văn Lẫm (2000), Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (1993) khẳng định trình độ tập luyện gồm 5 thành tố cơ bản: thể năng, kỹ năng, kỹ thuật, chiến thuật và năng lực tâm lý. Lưu Quang Hiệp và Phạm Thị Uyên (2003) tiếp cận dưới góc độ thích nghi sinh lý. Nguyễn Ngọc Cừ (1997) xác định trình độ tập luyện là phạm trù đa giá trị, tổng hòa các biến đổi thích nghi nội tại thuộc y sinh, sư phạm và tâm lý. Trương Anh Tuấn (2000), Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Kim Minh và Trần Quốc Tuấn (2002) cũng đồng thuận về tính chất phức hợp của các thành tố cấu thành trình độ tập luyện.
Về các công trình đánh giá trình độ tập luyện ở Việt Nam: Các tác giả Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Trạch, Lê Nguyệt Nga, Chung Tấn Phong, Lê Đức Chương, Đàm Quốc Chính, Đàm Tuấn Khôi, Nguyễn Kim Xuân, Nguyễn Kim Lan, Hà Minh Dịu, Phạm Văn Liệu đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu và thang điểm cho các môn bơi lội, bóng rổ, bóng ném, điền kinh, thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, cờ vua. Đối với môn đua xe đạp, chỉ có nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ (2005) về thể hình vận động viên nữ.
Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án của Lê Anh Đức là công trình đầu tiên xác lập cơ sở thực nghiệm và thống kê nhằm xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn và bảng điểm đánh giá tổng hợp trình độ tập luyện dành riêng cho nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 tại miền Bắc trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết chuyên ngành gồm:
- Lý thuyết thích nghi sinh học: Luận án dựa trên lý thuyết hội chứng thích ứng chung của Hans Selye (1936) với 3 giai đoạn (lo lắng hồi hộp ban đầu, đề kháng, kiệt sức) và phân loại hai dạng năng lượng thích ứng (năng lượng thích ứng bề mặt có thể hồi phục và năng lượng thích ứng dự trữ chiều sâu); lý thuyết 3 môđun dự trữ sinh học của David (1956) gồm đồng hóa ưu thế, cân bằng đồng hóa - dị hóa, và dị hóa ưu thế khi chịu stress; lý thuyết thích ứng miễn dịch 4 giai đoạn của R. Levando (động viên ở nhịp tim dưới 160 lần/phút, duy trì hồi phục, suy giảm hồi phục khi thi đấu, và hồi phục sau thi đấu); quan điểm của F. Meerson (1978) và L.P. Matveev về tính chu kỳ và sự cần thiết của giai đoạn khử thích ứng để tái lập trạng thái sung sức thể thao mới.
- Cơ sở di truyền học trong thể thao: Dựa trên các nghiên cứu của V.M. Zatsiorsky, Aulic, Hình Văn Hoa, Nguyễn Thế Truyền và số liệu độ di truyền của Nguyễn Ngọc Cừ (1997) nhằm phân định các chỉ số chịu chi phối mạnh của di truyền (nhóm máu 100%, chức năng thần kinh trung ương 90%, VO2max 69-93,6%, Myoglobin 81-99%, thành phần sợi cơ trắng/đỏ 80%, nhịp tim tối đa 85,9%, sức bền yếm khí 85%, thời gian phản xạ 86%) và các chỉ số chịu tác động lớn của môi trường huấn luyện (lực cơ tuyệt đối 35%, tần số động tác 30%).
- Quy luật phát triển thể chất và lứa tuổi nhạy cảm: Luận án vận dụng quy luật phát triển không đồng đều, tính làn sóng của thiếu niên 13-15 tuổi theo Dương Tích Nhượng (1991), Vôn Cốp, Lưu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh; xác định giai đoạn nhạy cảm của các tố chất tốc độ, sức mạnh tốc độ và sức bền.
- Mô hình vận động viên cấp cao môn xe đạp: Dựa trên phân loại của Điền Mạch Cửu (môn chu kỳ sức bền trên đường trường) và khung đặc trưng mô hình của Tăng Phàn Huy (1991), Vương Kim Xán (2005) gồm 7 nhân tố: hình thái cơ thể, chức năng cơ thể, tố chất thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý, năng lực trí tuệ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp 6 phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nghiên cứu các văn bản lý luận huấn luyện thể thao, sinh lý học lứa tuổi, di truyền học và tài liệu chuyên môn xe đạp trong và ngoài nước.
- Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu hỏi: Tiến hành khảo sát ý kiến của 18 chuyên gia và huấn luyện viên môn xe đạp nhằm xác định yêu cầu cơ bản và lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện.
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Sử dụng các bài test đo lường thể lực chung, thể lực chuyên môn và đánh giá kỹ thuật chuyên môn thông qua bảng trừ điểm kỹ thuật (Bảng 2.1 của luận án).
- Phương pháp kiểm tra y sinh: Đánh giá chức năng tim mạch, hô hấp, dung tích sống và năng lực ưa khí gián tiếp thông qua Bảng quy đổi test Cooper thành chỉ số VO2max (Bảng 2.2 của luận án).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức kiểm chứng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn trên các nhóm nam vận động viên xe đạp lứa tuổi 13, 14 và 15; đối chiếu thứ hạng điểm tổng hợp với thứ hạng thành tích thi đấu thực tế ở cự ly đua xe 20 km trước và sau thực nghiệm.
- Phương pháp toán thống kê: Sử dụng các công thức tính giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), hệ số biến thiên ($Cv$), kiểm định phi tham số Wilcoxon, hệ số tương quan đơn và tương quan đa nhân tố của Pearson, phương trình hồi quy xác định hệ số ảnh hưởng Beta ($\beta$).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Khách thể thực nghiệm: Các nam vận động viên xe đạp đường trường lứa tuổi 13, 14 và 15 đang tập luyện tại các trung tâm đào tạo thể thao thuộc một số tỉnh, thành phố miền Bắc Việt Nam (các nhóm mẫu kiểm định gồm $n=15$ ở tuổi 13; $n=14$ ở tuổi 14; $n=13$ ở tuổi 15; và các mẫu khảo sát nhịp tăng trưởng $n=14, 13, 12$).
- Khách thể phỏng vấn: 18 chuyên gia, giảng viên, huấn luyện viên xe đạp đường trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quá trình đào tạo vận động viên trẻ nhiều năm, các trường phái tiếp cận về trình độ tập luyện, cơ chế thích nghi sinh học và đặc điểm phát triển tâm sinh lý lứa tuổi 13-15.
Các dữ liệu và bảng biểu cơ sở được tác giả tổng hợp trong chương gồm:
- Bảng 1.1 và Bảng 1.2: Tổng hợp độ di truyền của các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và tố chất vận động theo số liệu của Nguyễn Ngọc Cừ (1997):
| Nhóm chỉ tiêu |
Tên chỉ tiêu cụ thể |
Mức độ di truyền (%) |
| Sinh lý, sinh hóa |
Nhóm máu |
100% |
|
Chức năng thần kinh trung ương |
90% trở lên |
|
VO2max |
69 - 93,6% |
|
Hàm lượng Myoglobin |
81 - 99% |
|
Tỷ lệ sợi cơ trắng và đỏ |
80% trở lên |
|
Nhịp tim tối đa |
85,9% |
|
Hoạt tính men LDH |
60 - 87% (LDH5 nam: 75,2%) |
|
Nồng độ Testosterone |
Nam 78%, Nữ 91% |
|
Số lượng ty lạp thể trong tế bào |
70 - 92% |
| Tố chất vận động |
Thời gian phản xạ |
86% |
|
Sức bền yếm khí |
85% |
|
Sức bền ưa khí |
70% |
|
Độ mềm dẻo |
70% |
|
Tốc độ phản xạ |
70% |
|
Sức mạnh tương đối |
64% |
|
Tốc độ động tác |
50% |
|
Sức mạnh tuyệt đối |
35% |
|
Tần số động tác |
30% |
- Bảng 1.3: Tỷ lệ % phát triển cơ thể ở lứa tuổi 13-15 so với người trưởng thành (theo Dương Tích Nhượng, 1991): ở nam giới, chiều cao đạt từ 91,6% (13 tuổi) đến 96,3% (15 tuổi); cân nặng đạt từ 75,1% đến 89,2%; dung tích sống đạt từ 72,5% đến 88,1%; lực bóp tay đạt từ 78,4% đến 97,0%; lực kéo cơ lưng đạt từ 66,1% đến 85,6%.
- Bảng 1.4: Quy luật phát triển không đồng đều của các cơ quan nội tạng và vận động ở tuổi 13-15: hệ xương và hệ cơ phát triển nhanh nhưng quá trình cốt hóa chưa hoàn tất; hệ tuần hoàn phát triển mạnh (trọng lượng tim đạt 160-200 g, nhịp tim giảm còn 72-80 lần/phút, huyết áp tối đa đạt 95-110 mmHg, thể tích phút tương đối đạt 70-80 ml/kg); hệ hô hấp có tần số thở 19-20 lần/phút, khí lưu thông đạt 300-350 ml.
- Bảng 1.5: Xác định tuổi nhạy cảm của các tố chất: khả năng thăng bằng (6-8 tuổi), khả năng phối hợp vận động (9-12 tuổi), tốc độ (10-12 tuổi), sức mạnh tốc độ (13-16 tuổi), sức bền (13-17 tuổi), sức mạnh tối đa (16-18 tuổi).
- Bảng 1.6: Mô hình vận động viên cấp cao môn xe đạp quy định nam có chiều cao 1m75 - 1m85, chức năng tim mạch hô hấp tốt, kỹ chiến thuật biến hóa và ý chí thi đấu kiên định.
Chương 2. Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng, khách thể, quy trình triển khai và chuẩn hóa các công cụ đo lường trong nghiên cứu:
- Thiết lập quy trình phỏng vấn 18 chuyên gia nhằm sàng lọc các chỉ tiêu kiểm tra sư phạm và y sinh.
- Chuẩn hóa Bảng 2.1: Bảng quy định thang trừ điểm đối với các lỗi kỹ thuật chuyên môn của vận động viên đua xe đạp đường trường (tư thế ngồi, kỹ thuật đạp vòng quanh chân, kỹ thuật ghì ghi-đông, phối hợp đạp và thở).
- Chuẩn hóa Bảng 2.2: Bảng quy đổi quãng đường chạy trong test Cooper (12 phút) sang chỉ số tiêu thụ oxy tối đa ($VO_2max$, tính bằng ml/kg/phút).
- Thiết lập quy trình kiểm tra thực tế trên cự ly đua xe đạp đường trường 20 km tính giờ nhằm làm tiêu chuẩn khách quan để đối chiếu mức độ phù hợp của hệ thống thang điểm.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và xử lý số liệu qua 3 nhóm nội dung chính:
- Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện:
- Khảo sát thực trạng sử dụng chỉ tiêu ở trong nước và ngoài nước (Bảng 3.1).
- Kết quả phỏng vấn chuyên gia ($n=18$) xác định yêu cầu cơ bản (Bảng 3.2) và lựa chọn các chỉ tiêu đạt tỷ lệ đồng thuận cao (Bảng 3.3).
- Kiểm định độ tin cậy và tính thông báo của các test bằng chỉ số Wilcoxon (Bảng 3.4), xác định tính đại diện của các giá trị trung bình ($n=18$, Bảng 3.6).
- Xác định hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu hình thái, chức năng, thể lực với thành tích đua xe 20 km (Bảng 3.5), lựa chọn các chỉ tiêu có mối tương quan chặt chẽ để đưa vào hệ thống test.
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm:
- So sánh các thông số thống kê về trình độ phát triển của vận động viên lứa tuổi 13, 14, 15 (Bảng 3.7).
- Phân tích nhịp tăng trưởng hàng năm của các chỉ tiêu ở nam vận động viên lứa tuổi 13 ($n=14$, Bảng 3.8), lứa tuổi 14 ($n=13$, Bảng 3.9), và lứa tuổi 15 ($n=12$, Bảng 3.10).
- Phân tích hệ số tương quan thành phần và tương quan đa nhân tố với thành tích đua xe 20 km ở từng lứa tuổi: tuổi 13 (Bảng 3.11), tuổi 14 (Bảng 3.12), tuổi 15 (Bảng 3.13).
- Xác định tỷ trọng ảnh hưởng thông qua hệ số hồi quy Beta ($\beta$) của các nhóm yếu tố cấu thành trình độ tập luyện (Bảng 3.14).
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện riêng biệt cho từng độ tuổi: Bảng 3.15 (cho vận động viên 13 tuổi), Bảng 3.16 (cho vận động viên 14 tuổi), Bảng 3.17 (cho vận động viên 15 tuổi).
- Xây dựng Bảng điểm tổng hợp phân loại trình độ tập luyện chung cho nam vận động viên 13-15 tuổi (Bảng 3.18) theo các mức: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu.
- Kiểm chứng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn:
- Kiểm chứng tương quan thứ hạng giữa tổng điểm đánh giá trình độ tập luyện với xếp hạng thành tích đua xe 20 km trước thực nghiệm: tuổi 13 ($n=15$, Bảng 3.19), tuổi 14 ($n=14$, Bảng 3.20), tuổi 15 ($n=13$, Bảng 3.21).
- Kiểm tra tính ổn định theo quy trình ngược lại ở lứa tuổi 13 (Bảng 3.22).
- Kiểm chứng sau thực nghiệm sư phạm ở lứa tuổi 14 (Bảng 3.23) và lứa tuổi 15 (Bảng 3.24), xác nhận mức độ phù hợp cao giữa điểm đánh giá tổng hợp của hệ thống thang điểm với thành tích thi đấu thực tế của vận động viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các kết quả và đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các luận cứ khoa học về đánh giá trình độ tập luyện trong môn đua xe đạp đường trường, đặt trong mối quan hệ với quy luật phát dục sinh học, di truyền học và các thời kỳ nhạy cảm của các tố chất vận động ở lứa tuổi 13-15.
- Xác lập cơ sở phương pháp luận trong việc kết hợp các chỉ số y sinh học (hình thái, chức năng tim mạch, hô hấp, $VO_2max$) với các test kiểm tra sư phạm (thể lực chung, thể lực chuyên môn, kỹ thuật) trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
Về mặt thực tiễn:
- Lựa chọn được hệ thống chỉ tiêu có độ tin cậy và tính thông báo cao, phù hợp với đặc điểm thể chất của nam vận động viên xe đạp 13-15 tuổi các tỉnh miền Bắc.
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống bảng tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá trình độ tập luyện riêng biệt cho từng độ tuổi 13, 14, 15 và bảng phân loại tổng hợp.
- Cung cấp công cụ đánh giá khách quan giúp các huấn luyện viên kiểm soát sự biến đổi thích nghi của cơ thể vận động viên, từ đó điều chỉnh kế hoạch huấn luyện và lượng vận động phù hợp.
Kiến nghị của luận án:
- Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đã xây dựng vào công tác kiểm tra định kỳ, tuyển chọn và phân loại vận động viên đua xe đạp đường trường 13-15 tuổi tại các trung tâm thể thao phía Bắc.
- Huấn luyện viên cần căn cứ vào nhịp tăng trưởng và tỷ trọng của các chỉ tiêu ở từng lứa tuổi để bố trí bài tập ưu tiên, tránh chuyên môn hóa quá sớm hoặc sử dụng lượng vận động vượt quá khả năng thích ứng của lứa tuổi thiếu niên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Đối tượng khảo sát và thực nghiệm mới giới hạn ở nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 thuộc một số tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc; chưa mở rộng sang đối tượng vận động viên nữ hoặc vận động viên khu vực miền Trung và miền Nam.
- Quy mô mẫu vận động viên trẻ đặc thù trong từng độ tuổi còn hạn chế do số lượng vận động viên xe đạp chuyên nghiệp ở lứa tuổi này không nhiều ($n=12$ đến $n=15$ vận động viên mỗi lứa tuổi).
- Đề tài tập trung vào nội dung đua xe đạp đường trường, chưa bao quát các nội dung thi đấu khác của môn xe đạp như xe đạp lòng chảo hay xe đạp địa hình.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cho nữ vận động viên đua xe đạp ở cùng lứa tuổi và các giai đoạn huấn luyện tiếp theo (giai đoạn chuyên môn hóa sâu 16-19 tuổi).
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu cho các nội dung đua xe đạp tốc độ lòng chảo và xe đạp địa hình tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Huấn luyện viên môn đua xe đạp: Tham khảo hệ thống tiêu chuẩn tại Bảng 3.15, 3.16, 3.17 và Bảng điểm tổng hợp 3.18 để kiểm tra, đánh giá định kỳ trình độ tập luyện của vận động viên trẻ; sử dụng Bảng trừ điểm kỹ thuật (Bảng 2.1) để uốn nắn kỹ thuật chuyên môn.
- Cán bộ quản lý và tuyển chọn thể thao: Vận dụng hệ thống chỉ tiêu để sàng lọc năng khiếu trong giai đoạn chuyển tiếp từ huấn luyện ban đầu sang chuyên môn hóa sâu.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Huấn luyện thể thao: Tham khảo phương pháp phối hợp giữa kiểm tra sư phạm và kiểm tra y sinh (Bảng quy đổi Cooper - $VO_2max$), phương pháp xử lý thống kê đa biến (hồi quy hệ số Beta, kiểm định Wilcoxon, ma trận tương quan) trong đánh giá thể thao.
Câu hỏi thường gặp
-
Trình độ tập luyện theo luận án bao gồm những thành tố cơ bản nào?
Theo tổng luận của luận án, trình độ tập luyện là phức hợp đa thành tố gồm hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, các tố chất thể lực (chung và chuyên môn), trình độ kỹ - chiến thuật, phẩm chất tâm lý và năng lực trí tuệ. Trình độ này phát triển nhờ sự thích ứng của cơ thể với lượng vận động tập luyện và thi đấu.
-
Vì sao lứa tuổi 13-15 được chọn làm đối tượng nghiên cứu giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu?
Căn cứ vào phân kỳ huấn luyện nhiều năm của V.P. Filin và Điền Mạch Cửu, môn đua xe đạp bắt đầu chuyên môn hóa ban đầu ở lứa tuổi 13-15 (sau giai đoạn sơ bộ 10-12 tuổi). Đây là lứa tuổi phát dục với nhịp tăng trưởng mạnh về hình thể và là thời kỳ nhạy cảm đối với các tố chất sức mạnh tốc độ và sức bền.
-
Luận án sử dụng cự ly thi đấu nào làm tiêu chuẩn thực nghiệm để kiểm chứng độ tin cậy của thang điểm?
Luận án sử dụng cự ly đua xe đạp đường trường 20 km tính giờ để xác định hệ số tương quan với các chỉ tiêu kiểm tra và so sánh thứ hạng điểm đánh giá trình độ tập luyện với thứ hạng thành tích thi đấu thực tế trước và sau thực nghiệm (trình bày tại các Bảng 3.11-3.13 và Bảng 3.19-3.24).
-
Những chỉ tiêu sinh học nào có độ di truyền cao nhất được luận án điểm lại?
Theo bảng số liệu tổng hợp từ công trình của Nguyễn Ngọc Cừ (1997) được luận án trích dẫn, các chỉ tiêu có mức độ di truyền cao nhất gồm: nhóm máu (100%), chức năng thần kinh trung ương (trên 90%), dung lượng hấp thụ oxy tối đa $VO_2max$ (69 - 93,6%), hàm lượng Myoglobin (81 - 99%), thời gian phản xạ (86%), sức bền yếm khí (85%) và nhịp tim tối đa (85,9%).
-
Phương pháp nào được dùng để xác định gián tiếp dung lượng hấp thụ oxy tối đa ($VO_2max$) của vận động viên?
Luận án sử dụng phương pháp kiểm tra y sinh thông qua bài test Cooper chạy 12 phút, sau đó sử dụng Bảng quy đổi số 2.2 trong văn bản để xác định chỉ số $VO_2max$ tương ứng theo thể trọng của vận động viên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Anh Đức đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở khoa học và bộ công cụ đánh giá trình độ tập luyện cho nam vận động viên đua xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 tại một số tỉnh miền Bắc trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu. Thông qua việc phối hợp giữa phân tích lý luận, phỏng vấn chuyên gia, kiểm tra sư phạm, kiểm tra y sinh và các thuật toán thống kê, công trình đã xác lập được hệ thống chỉ tiêu có tính thông báo và độ tin cậy cao. Các bảng tiêu chuẩn và thang điểm tổng hợp được xây dựng theo từng độ tuổi và được kiểm chứng thông qua mối tương quan chặt chẽ với thành tích thi đấu cự ly 20 km thực tế. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác giám sát huấn luyện và nâng cao chất lượng đào tạo vận động viên đua xe đạp trẻ tại Việt Nam.