CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm huấn luyện nhiều năm trong quá trình đào tạo VĐV trẻ các môn thể thao: HLTT là một quá trình sư phạm thống nhất vận dụng các quy luật về sự phát triển nhân cách và năng lực thể thao. Ngoài ảnh hưởng của di truyền hiệu quả HLTT phần lớn phụ thuộc quá trình luyện tập, môi trường và xã hội. Theo quan điểm của Harre, quá trình đào tạo VĐV chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ (tạo nên các tiền đề chung và chuyên môn cho thành tích thể thao cao nhất) và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao. Trong đó giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ chia thành hai giai đoạn nhỏ là huấn luyện ban đầu và chuyên môn hóa.
Tác giả Nabátnhicôva, Philin cho rằng quá trình đào tạo VĐV trẻ gồm các giai đoạn: Huấn luyện ban đầu; Chuyên môn hóa (từ 9 - 10 tuổi); Hoàn thiện thể thao (16 tuổi trở lên) [44]. Quan điểm của các tác giải A.MátVêép lại chia quá trình HLTT nhiều năm các giai đoạn lớn: Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ; Giai đoạn chuyên môn hóa bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho những thành tích tương lai [1].G (1983) cho rằng: Đánh giá quá trình huấn luyện đi liền với đánh giá hình thái, chức năng, thể lực, kỹ thuật và tâm lý để xác định năng lực tiềm tàng của VĐV nhằm đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao lựa chọn. Năng lực này được biểu hiện cụ thể ở mức chuẩn bị về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức - ý chí và trí tuệ. Giữa hình thái, chức năng, trình độ thể lực, kỹ thuật, tâm lý và TĐTL có mối liên quan đến nhau nó phụ thuộc vào yêu cầu vận động chuyên môn của môn thể thao sở trường.
Tác giả Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tấn Di Trọng chia quá trình huấn luyện VĐV trẻ thành 4 giai đoạn: Huấn luyện sơ bộ; Huấn luyện ban đầu; Huấn luyện chuyên môn hóa; Hoàn thiện thể thao. Huấn luyện ban đầu còn được gọi là giai đoạn dự bị năng khiếu [69], [71], [72]. Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn chia quá trình huấn luyện nhiều năm làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn đào tạo ban đầu, Giai đoạn thực hiện tối đa khả năng thể thao; Giai đoạn duy trì thành tích thể thao [66]. Dưới quan điểm tuyển chọn tài năng thể thao theo các tác giả Nguyễn Ngọc Cừ, Bùi Quang Hải giai đoạn chuyên môn hóa khoảng 4-6 năm.
Giai đoạn này nên đào thải những VĐV phát dục sớm cuối mỗi năm nên tổ chức đánh giá TĐTL để tuyển chọn lại. Trong giai đoạn này nên đo lường và đánh giá nhiều chỉ số hơn giai đoạn trước (về thể hình, chức năng, tố chất, thể lực chuyên môn, kỹ - chiến thuật). Ngoài ra nên chú ý tới yếu tố ý chí, khả năng chịu đựng lượng vận động trong tập luyện. Trong giai đoạn này cũng nên kiểm tra sức khỏe chung để loại trừ các trường hợp có sức khỏe yếu [11], [12], [22].
Theo tác giả Ôđôlin M.G quá trình huấn luyện nhiều năm của VĐV chạy ngắn được chia thành 4 giai đoạn: Huấn luyện ban đầu (từ 9 tuổi và kéo dài trong khoảng 3 năm); Chuyên môn hóa ban đầu (từ lứa tuổi 12 - 13 và kéo dài tới 15 - 16 tuổi); Chuyên môn hóa sâu (từ lứa tuổi 15 - 16 và kéo dài tới 1 8 - 1 9 tuổi); Hoàn thiện thể thao (từ 19 tuổi hoặc lớn hơn và đạt được thành tích cao nhất ở đội tuổi 22 - 28). Trong đó nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là huấn luyện thể lực toàn diện, nâng cao mức độ chịu đựng chung của cơ thể tạo được vốn kỹ năng vận động, tăng tri thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tài năng thể thao.Phi Lin và Điền Mạnh Cửu hệ thống luyện nhiều năm VĐV xe đạp thể thao bao gồm 4 giai đoạn chủ yếu sau: Huấn luyện thể thao sơ bộ (10 - 12 tuổi) ; Chuyên môn hóa ban đầu (13-15 tuổi); Chuyên môn hóa sâu (16 - 19 tuổi); Hoàn thiện thể thao (19 tuổi và nhiều hơn). Việc chia thành các giai đoạn huấn luyện mang tính quy ước vì sự khác nhau trong việc phát triển về mặt sinh học của các VĐV trẻ có thể từ 2 - 3 năm hoặc nhiều hơn. Từ kết quả phân tích và tổng hợp tài liệu cho thấy đề tài lựa chọn đối tượng nam VĐV xe đạp thể thao đường trường lứa tuổi 1 3 - 1 5 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là phù hợp với cơ sở lý luận và đặc thù chuyên môn môn xe đạp thể thao.
Đồng thời lứa tuổi 13-15 là giai đoạn cuối của giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu và chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn chuyên môn hóa sâu. Vì vậy việc đòi hỏi TĐTL của VĐV nói chung và tố chất thể lực nói riêng cần phải đáp ứng được nhiệm vụ và chỉ tiêu đặt ra. Theo các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là giai đoạn chuyên môn hóa cơ sở. Ở giai đoạn chuyên môn hóa thể thao ban đầu cần tận dụng thời kỳ phát triển “nhạy cảm” theo lứa tuổi của cơ thể tránh chuyên môn hóa quá hẹp, sớm.
Theo tác giả Mátvêep L, đặc điểm chuyên biệt của quá trình tập luyện ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là: Hiệu quả cao của lượng vận động được thể hiện ở chỗ lượng vận động tăng trưởng ít, song mức tăng thành tích tương đối lớn; tính đều đặn tương đối của nhịp độ tăng hàng năm về khối lượng của lượng vận động tập luyện thể hiện tính đặc thù, nhưng hiệu quả của chúng lại có phạm vi rộng thể hiện ở khả năng “chuyển” TĐTL khi sử dụng những phương tiện huấn luyện khác nhau có biên độ lớn hơn so với giai đoạn sau. Kết quả phân tích và tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về đặc điểm các giai đoạn của quy trình huấn luyện nhiều năm đối với các môn thể thao nói chung XĐTT nói riêng cho thấy: Phân chia các giai đoạn huấn luyện có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau song điều kiện tiên quyết là phải dựa vào quy luật phát triển sinh học tự nhiên của con người. Trong quá trình huấn luyện phải tuân thủ quy luật phát triển sinh học để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ trong từng giai đoạn huấn luyện đặt ra trong quy trình huấn luyện hệ thống. Một hệ thống huấn luyện nhiều năm phải gắn liền với giới hạn tuổi của VĐV ở mỗi giai đoạn và tuổi đạt thành tích đỉnh cao ở môn thể thao cụ thể.
Quá trình huấn luyện VĐV nói chung và VĐV xe đạp đường trường nói riêng được chia thành các giai đoạn huấn luyện cụ thể và diễn ra nối tiếp trong nhiều năm. Việc phân chia thành các giai đoạn huấn luyện chỉ mang tính khái quát tương đối, song nó luôn có tính kế thừa và hợp nhất. Căn cứ vào đặc trưng, đặc thù của mỗi môn thể thao mà xây dựng nên các chỉ tiêu chuẩn cho từng giai đoạn huấn luyện. Để đánh giá TĐTL của VĐV xe đạp đường trường cần phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của từng giai đoạn huấn luyện.
Từ đó lựa chọn được các phương pháp, phương tiện huấn luyện và xuyên suốt trong kế hoạch huấn luyện. Các quan điểm trong đánh giá trình độ tập luyện của VĐV thể thao: 1. Khái niệm về trình độ tập luyện: TĐTL là một phức hợp gồm nhiều thành tố sinh học, tâm lý, kỹ chiến thuật, tố chất thể lực hợp thành và được hoàn thiện nhờ ảnh hưởng của quá trình tập luyện, thi đấu và các biện pháp hỗ trợ từ bên ngoài. Đánh giá TĐTL là nhiệm vụ quan trọng trong HLTT để hỗ trợ cho công tác huấn luyện và tuyển chọn của người HLV.
Để đánh giá đúng về TĐTL cần có một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học bao gồm: bác sỹ, HLV, kỹ thuật viên, nhân viên thí nghiệm hỗ trợ thêm công tác huấn luyện. Mục đích tập luyện của con người là tăng cường sức khỏe và nâng cao thành tích thể thao. Tập luyện tăng cường sức khỏe là mục đích chung của người tập là quá trình tập luyện liên tục TDTT hàng ngày. Đối với VĐV thể thao quá trình tập luyện không ngừng hệ thống các bài tập chuyên môn.
Mục đích và nhiệm vụ tập luyện khác nhau thì trình độ cũng rất khác nhau. Đối với người tập luyện vì mục đích sức khỏe dựa vào năng lực tập luyện để đánh giá, còn đối với VĐV cần phải xác định TĐTL để định ra các kế hoạch huấn luyện khoa học và các bài tập có tính đặc hiệu. Đánh giá TĐTL cần phải thông qua các chỉ tiêu, chức năng sinh lý và các chỉ tiêu chuyên môn. Khi tiến hành thực nghiệm phải phân tích đối chiếu các chỉ tiêu biến đổi sinh lý ở các trạng thái yên tĩnh và chịu đựng lượng vận động.
TĐTL là một trạng thái động luôn luôn phát triển và tuân theo các quy luật phát triển của thành tích thể thao cũng như đặc điểm giới tính, độ tuổi và môn thể thao chuyên sâu. Đánh giá TĐTL của VĐV cần lưu ý đến các chỉ số chịu sự tác động của di truyền như: phản xạ vận động, sức mạnh bột phát, lực cơ tương đối, sức nhanh, nhịp tim tối đa, lượng oxy hấp thụ tối đa so với trọng lượng cơ thể, các chỉ số chuyển hóa yếm khí, hô hấp tế bào. Mặt khác còn phải quan tâm đến một số chỉ tiêu chịu sự ảnh hưởng của môi trường giáo dục và huấn luyện như tần số động tác, lực cơ tối đa…. Khi đánh giá TĐTL của VĐV cấp cao cần phải định lượng được những thành tố bên trong cơ thể đó là các chỉ tiêu y sinh bao gồm hình thái, sinh lý, sinh cơ, đồng thời xác định những thành tố biểu hiện bên ngoài đó là các chỉ số sư phạm về tố chất thể lực chung và thể lực chuyên môn, kỹ- chiến thuật và các phẩm chất tâm lý của từng VĐV vào những thời điểm sung mãn nhất, tức là trước lúc thi đấu.
Chỉ số cơ bản để đánh giá TĐTL của VĐV là thành tích thể thao đạt được sau nhiều năm tập luyện một cách liên tục, bền bỉ, công phu và khoa học. Thành tích thể thao chỉ đạt được trong một giai đoạn ngắn nào đó trong mỗi chu kỳ tập luyện (trạng thái sung sức thể thao). Thành tích thể thao là hiện tượng đa nhân tố, phụ thuộc vào nhiều vấn đề. Trong các điều kiện giống nhau thành tích thể thao phụ thuộc vào năng khiếu và mức độ đào tạo của nguồn VĐV.