CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỐ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM M ục tiêu: Chương này giúp sinh viên nắm bắt khái quát quá trình hình thành và phát triển môn Võ cổ truyền Dân tộc từ thời kỳ sơ khai cho đến hiện tại, biết được ý nghĩa và tầm quan trọng của môn Võ cổ truyền trong quá trình dựng nước và giữ nước của nước ta. Đặc biệt ngày nay môn Võ cổ tryền đã trở thành môn thể thao dân tộc và môn thể thao thế giới, có tầm quan trọng trong đời sống văn hóa của dân tộc. Kỹ năng: Sinh viên được trau dồi và lĩnh hội kiến thức về tính lịch sử, tính triết học và tính nhân văn trong môn Võ cổ truyền. Môn võ dân tộc này được chân truyền theo chiều dài lịch sử dân tộc, được phát triển từ thời kỳ sơ khai đến hiện tại, thể hiện được tinh thần yêu nước, giáo dục truyền thống và lòng tự hào dân tộc.
Sinh viên cần hiểu rõ ý nghĩa, vai trò, nhiệm vụ của Võ cổ truyền trong giáo dục thể chất, đạo dức và nhân cách của người Việt Nam. VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM Ở THỜI KỲ s ơ KHAI Theo dòng lịch sử và căn cứ các sự kiện, nhân vật lịch sử, các cứ liệu, sách sử, hiện vật, các di chỉ về khảo cổ học, được thể hiện khá sinh động, kể từ khi loài người xuất hiện trên đất nước Việt Nam và xuyên suốt cuộc trường chinh dựng nước, giữ nước, đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, nhất là giai đoạn hình thành, phát triển Nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của Việt Nam, đã xác định: các Vua Hùng (nhà nước Văn Lang) là Thủy Tổ khai sáng Võ dân tộc Việt Nam. Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Lịch sử Việt Nam”: những di tích xưa nhất về loài người sinh sông trên đất nước Việt Nam, được phát hiện nhiều nhất ở vùng đất Hòa Bình. Những địa điểm khá quan trọng, có nhiều dấu tích được phát hiện ở Sào Động, xóm Kham, Chiềng Xén, 7 Mường Khàng.
Hầu hết những di vật đều nằm theo ba tầng, tầng thấp nhất, tức xưa nhất, gồm những đồ đá cũ thô sơ. Đặc trưng nổi bật, là người ta dùng những hòn dá cuội tự nhiên đập mạnh cho vỡ bớt một phần để có thể có những quả dâm hay những quả ném, để dùng làm võ khí. Ngoài ra cũng có những cái nạo, cái búa, cái rìu ngắn làm bằng đá cuội đẽo ở một đầu. Đó là những kiểu đồ dá thô sơ, chế tạo hết sức vụng về và không theo một khuôn mẫu nào cả.
Ở tầng giữa, thì phần lớn đồ dùng, võ khí để tự vệ, chống thú dữ vẫn là đồ đá đẽo, nhưng sự chế biến có phần khéo hơn, nhỏ nhắn và nhẹ nhàng hơn. Đến thời kỳ này, người ta đã bắt đầu biết phân biệt, lựa chọn nguyên liệu và chế tác có phần biến hóa hơn. Trong khi đó ở tầng trên, lại phát hiện nhiều đồ đá chế tác có phần tinh vi hơn. Với những “vũ khí” thô sơ được làm bằng dá, nếu sống lẻ loi, con người không thể dối phó nổi với thú dữ và nguy hiểm tự nhiên.
Vì vậy con người phải đoàn kết, quần tụ lại, giúp đỡ lẫn nhau để tự vệ và kiếm ăn, nhất là trong những cuộc vây bắt thú nhỏ và săn đuổi thú lớn, như voi, bò tót, tê giác, trâu rừng, hổ, gấu. Từ đây người Việt cổ cũng đã chế tác ra các loại khí giới cần thiết, phù hợp với công việc săn bắt, bủa vây thú rừng, ném, bắt, đâm cá dưới sông suối như: dao găm bằng đá đẽo, búa đá nhọn có chuôi, búa đá hình thang có chuôi, đục bằng đá lưỡi cong, cuốc đá, rìu đá. Khi bước sang thời kỳ đồ đá mới, những nhu cầu và đòi hỏi của con người được nâng lên cao hơn. Vì vậy nên Công xã Nguyên Thủy cũng phải có sự phân công lại lao động và dược tổ chức chặt chẽ hơn.
Toàn bộ con cháu sinh ra, đều ở trong thị tộc của mẹ và chỉ thờ phụng tổ tiên bên mẹ. Con trai lấy vợ, phải gia nhập thị tộc bên vợ và vâng theo lệnh của bà Tôn mẫu bên vợ. Nếu có ai trong thị tộc bị người ngoài giết hay xúc phạm, thì toàn bộ thị tộc phải đứng lên báo thù, vì thế mà những cuộc báo thù kéo dài từ đời này sang đời khác. Để khai phá đất đai, mở rộng lãnh địa, bảo an quyền sống, giành lấy sự độc tôn và khẳng định sức mạnh của mình, các thị tộc lân cận liên kết lại với nhau thành bộ lạc, tổ chức luyện tập võ nghệ và phân công nhau chế tác các loại binh khí thiết yếu, để chiến đấu và gìn giữ bộ lạc của mình.
Thị tộc thường gồm mấy chục đên mây trăm người và được coi là một tập thể sản xuât, còn bộ lạc gồm mấy trăm đến mấy ngàn người là một tập 8 thể quân sự. Trong bộ lạc những người đàn ông, đàn bà mang binh khí họp lại với nhau để cử ra người lãnh tụ cai trị, quân sự. Theo các di khảo cổ và tương truyền: trong giai đoạn đầu, để hình thành các động tác, các tư thế thích ứng trong việc phòng bị, di chuyển, luồn lách, né tránh, tấn công tiêu diệt thú giữ và kẻ thù, người Việt cổ đã mô phỏng, bắt chước những thao tác quen thuộc được lặp đi, lặp lại đến thuần thục trong đời sống hàng ngày như: hái, lượm, săn, bắt, leo, trèo, ném, phóng lao, phóng dao, bắn cung, nỏ. của người miền núi, các thao tác kéo, đẩy, chèo, chống, bơi, lặn.
của người miền biển và mang, vác, chạy, nhảy, đâm, chặt, chém. của người miền xuôi. Đồng thời, từ thói quen trong các thao tác sử dụng công cụ lao động, săn bắt thường nhật như: cày, cuốc, phảng, câu liêm, búa, rìu, rựa, dao, giáo, mác, lao, nỏ, ná, cung, kiếm. và từ những động tác mang tính tự vệ, cũng như khả năng phản xạ có điều kiện của con người, khi bị kẻ thù hoặc thú dữ vây ráp, tấn công.
Ngoài ra còn mô phỏng theo các tính năng di động, khả năng quan sát, đặc điểm tấn công, luồn lách, né tránh, chống đỡ mang tính bản năng của các loài động vật, mà con người thường tiếp cận. Trong sô đó, tố tiên người Việt còn nghiên cứu phân định tính năng, đặc dị của từng loài, để thích nghi với từng nhóm động vật, như: đối với nhóm có khả năng chạy, nhảy, bay, di chuyển nhanh nhạy, linh ứng (hổ, sư tử, ngựa, mèo, khỉ, gà, thỏ, chim đại bàng, chim phượng hoàng. ), nhóm có tính năng di chuyển trên cạn, dưới nước thuộc dạng bò sát (trăn, rắn, cá sấu, thuồng luồng. ) và loại to lớn, khỏe mạnh (voi, tê giác, bò tót, trâu rừng, gấu.) Các bộ lạc to lớn, có vũ lực hùng mạnh hơn thường tìm cách thôn tính, cướp bóc của cải, sức lao động của các bộ lạc nhỏ lẻ, yếu hơn, buộc họ phải trở thành kẻ nô dịch cho bộ lạc mình và từ đó các bộ lạc bị áp bức, bóc lột, không còn con đường nào khác là phải tự trang bị võ lực, khí giới và cùng liên kết lại với nhau, để chông trả, giành lấy sự sống và bảo vệ những thành quả lao động, của cải vật chất do mình làm ra.
Chính vì vậy, nên tất cả các bộ lạc, dù mạnh hay yếu, dù kẻ chủ nô hay người nô lệ, tất cả đều phải tự tìm tòi, nghiên cứu, để nâng dần những khí giới thô sơ, những động tác võ, thế võ, cách đánh từ sơ đẳng, dơn lẻ đã định hình trước đó, lên thành những thứ vũ khí đa năng, sắc bén hơn, 9 những miếng võ có sức nhanh, sức mạnh, biến hóa và công phá hữu hiệu hơn, để nhanh chóng tiêu diệt đối phương. Trong giai đoạn này, các nhà nước luôn chú trọng tăng cường tiềm lực quân sự, tổ chức huấn luyện võ nghệ, rèn đúc, cải tiến các loại binh khí tinh xảo, đa năng hơn, có tầm sát thương cao hơn. Bên cạnh đó, các bộ lạc hiếu chiến và cả những tầng lớp chủ nô, quý tộc hiếu chiến cũng không ngừng tập hợp lực lượng, thu phục những người giỏi võ, mua sắm, trang bị khí giới và tổ chức luyện tập võ nghệ, để tiếp tục khống chê các bộ lạc nhỏ lẻ, thế yếu, nhằm mở rộng lãnh địa, thu vén tài nguyên, áp chế nô lệ, giành quyền thống trị lâu dài. Đó cũng chính là lý do phát triển nhanh mạnh, rộng khắp các lò dạy võ, đào tạo kỹ năng chiến đấu và hình thành các lò rèn, đúc, chế tác các loại võ khí bằng sắt, đồng, như: giáo, đao, rìu, kiếm, trường thương, chỉa ba cán dài, lăn khiên, dao găm, phi tiêu, xích sắt, chùy.
ngày càng tinh xảo, phong phú và đóng giữ vai trò thiết yếu trong việc giải quyết các mâu thuẫn xã hội. Ở thời kỳ này, ngoài các binh khí đánh gần cũng đã xuất hiện các loại binh khí tấn công từ xa, như: cung, nỏ, mũi lao, mũi mác, mũi tên được sản xuất rấ t nhiều. Thực tế vừa qua đã phát hiện đến vài vạn chiếc, với những chủng loại mới lạ, mang tính sát thương cao, gồm: cung, nỏ cỡ trung, cỡ lớn có bánh xe đẩy, nhiều mũi tên to, dài như mũi lao, mũi mác và vô số các mũi tên khác nhỏ hơn, có hình lá hoa hồng, hình cánh én, tên ba cạnh, tên ba cánh, m ặt tên lõm có trụ chuôi, dể khi bắn đi phát ra âm thanh nghe đến rợn người. Với đà thắng lợi và xu thế quân sự mạnh mẽ, trình dộ binh quyền, võ lược, th ế nước đang ngày một dâng cao, dã tạo điều kiện cho các vương triều kế tiếp, như: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần.
từng bước tăng cường các thể chế chính trị, phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, củng cố quốc phòng, trong đó tập trung mở rộng hệ thống đào tạo, huấn luyện binh lính, tiến hành xây dựng Điện Giảng Võ ở Thăng Long, để đào luyện nhân tài võ học, xây dựng Xạ Đình ở phía nam thành Đại La, để cho các võ tướng, võ quan, chỉ huy quân sự ngày đêm luyện tập võ thuật, binh khí, phương lược tác chiến, bài binh, lập trận, nhất là kỹ thuật bắn cung, nỏ, phi ngựa phóng lao, phóng phi tiêu.