Chương 1: Giáo dục thể chất chung bao gồm 2 bài: Thể dục cơ bản và Điền kinh. - Chương 2: Chuyên đề thể dục thể thảo tự chọn, bao gồm 6 chuyên đề: Môn bơi lội; Môn cầu lông; Môn bóng chuyền; Môn bóng rổ; Môn bóng đá; Môn bóng bàn. Tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập 4. Tổ chức dạy học Đối với giảng viên: Khuyến khích giảng viên áp dụng phương pháp dạy học tích cực, kết hợp giảng dạy môn học với các hoạt động thể dục thể thao khác; t ng bước hình thành thói quen cho người học áp dụng các bài tập được học trong việc r n luyện thể dục thể thao hàng ngày.
4 Quá trình học tập có thể diễn ra với nh ng cách tổ chức đa dạng lôi cuốn người học tham gia cùng tập thể với sự dẫn dắt, gợi mở, cố vấn của giảng viên với các hình thức tổ chức tập luyện, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và đặc điểm của t ng môn thể thao: Tập luyện đồng loạt; tập luyện lần lượt; tập luyện theo nhóm; tập luyện cá nhân. Đối với người học: Cần chú trọng các yêu cầu kỹ thuật và phương pháp tập luyện trong học tập để r n luyện, tự r n luyện, hình thành thói quen thể dục thể thao trong và ngoài giờ học. Phƣơng pháp đánh giá Việc đánh giá kết quả học tập của người học được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. 5 Chƣơng I: I O D C THỂ CHẤT CHUN Bài : THỂ D C CƠ BẢN.
iới thiệu về thể dục cơ bản Thể dục cơ bản là loại hình thể dục mà nội dung chính của nó bao gồm các bài tập phát triển chung liên quan đến hoạt động của các bộ phận cơ thể, như tay, chân, đầu, thân, mình; các kĩ năng vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, ném, bắt, leo tr o; các bài tập đội hình, các bài tập trên các dụng cụ thể dục (thang gióng, ghế thể dục, cầu…); các bài tập thể dục dụng cụ đơn giản. Thể dục cơ bản phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, nhưng thường được vận dụng trong các trường học nhằm phát triển các kĩ năng vận động cần thiết cho cuộc sống, hình thành các tư thế đúng, đẹp; phát triển khả năng phối hợp vận động và các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền cho người học. Thể dục tay không liên hoàn 2. Tác dụng của thể dục tay không liên hoàn Thể dục tay không liên hoàn giúp cho người tập duy trì và nâng cao sức khỏe, trong đó giúp phát triển các bắp thịt ở vai, ngực và chi trên.
Ngoài ra, còn giúp hình thành kỹ năng, kỹ ảo vận động và nâng cao năng lực làm việc. Các động tác k thuật Bài thể dục tay không liên hoàn (32 động tác)1 Tƣ thế chuẩn bị: Đứng thẳng, chân đứng tư thế nghiêm, mặt nhìn về phía trước. Động tác : Tay trái đưa ngang, du i thẳng, lòng bàn tay úp. 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tài liệu giảng dạy Thể dục thể thao, dùng cho các Trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp.
Hà Nội, Nhà Xuất bản Giáo dục, 1997; Phan Thế Nguyên, Lê Thị Thanh Thủy, Trần Thị Thu 2005. Giáo trình Thể dục cơ bản. Hà Nội: NXB Thể dục thể thao. 6 Động tác 2: Hai tay giang ngang, lòng bàn tay úp, các ngón tay khép.
Động tác : Tay trái đưa ra trước, lòng bàn tay oay hướng vào trong. Động tác : Hai tay đưa ra trước, lòng bàn tay úp. Động tác : Tay trái đưa lên cao, lòng bàn tay hướng vào trong, mặt nhìn chếch lên trên 30o. Động tác : Hai tay đưa lên cao, tạo thành một góc 300.
Động tác 7: Hai tay đưa ngang, lòng bàn tay úp, mặt nhìn thẳng về trước. 7 Động tác 8: Hai tay hạ uống, về tư thế cơ bản. Động tác 9: Hai tay đưa ra sau, lòng bàn tay hướng vào nhau, chân trái đưa lên trước duổi thẳng (song song mặt đất), chân phải đứng trụ làm thẳng. Động tác 0: Hạ thấp trọng tâm bằng chân trái uống, gập gối 90o, bàn chân phải hơi oay một góc vuông với chân trái và du i thẳng, đầu hơi ngửa.
Động tác : Quay thân sang phải 90o, trọng tâm trên hai chân, mặt nhìn thẳng. Động tác 2: Khép chân trái, hai tay hạ dọc thân người, về tư thế chuẩn bị. Động tác : Đưa chân phải lên du i thẳng (song song mặt đất) như động tác 9. 8 Động tác 14: Hạ thấp trọng tâm như động tác 10.
Động tác : Quay thân sang trái 90o như động tác 11. Động tác : Khép chân phải về tư thế thẳng như động tác 12. Động tác 7: Ngồi ổm chụm gối, hai bàn chân khép, nửa bàn chân trước tiếp úc đất, hai tay chống bằng vai, cách mũi chân 30 cm, đầu cúi. Động tác 8: Chuyển trọng tâm lên hai tay, bật nhẹ đưa chân trái sang bên du i thẳng.
Động tác 9: Thu chân trái, đưa chân phải sang bên như động tác 18. Động tác 20: Thu chân về ngồi ổm. 9 Động tác 21: Chống hai tay, đẩy hai chân về sau thành chống sấp, thân thẳng. Động tác 22: Gập khuỷu tay, chống đẩy một lần.
Động tác 2 : Thực hiện giống động tác 22 (chống đẩy lần 2). Động tác 2 : Thu chân về giống động tác 20. Động tác 2 : Đứng thẳng dậy, hai tay lên cao ch V, chân khép, lòng bàn tay hướng trong. Động tác 2 : Gập thân hai tay hướng vào hai mũi chân, đầu gối thẳng.
Động tác 27: Bước chân trái về trước 30o, khuỵu gối, hai tay lên cao ch V lòng bàn tay hướng trong, đầu hơi ngửa. 10 Động tác 28: Thu chân trái về, gập thân giống động tác 26. Động tác 29: Thực hiện giống động tác 27 nhưng bước chân phải. Động tác 0: Thực hiện giống động tác 28.
Động tác : Bước chân trái sang ngang rộng hơn vai, hai tay dang ngang lòng bàn tay úp, gập thân người song song mặt đất. Động tác 2: Thu chân trái về tư thế chuẩn bị. Kết thúc bài tập. nh (chị) hãy trình bày tác dụng, kỹ thuật cơ bản của thể dục tay không liên hoàn.
11 BÀI 2: ĐIỀN KINH Điền kinh là một tập hợp các môn thể thao cạnh tranh bao gồm đi bộ, chạy các cự ly, nhảy cao, nhảy a, ném lao, ném đĩa, ném búa, đẩy tạ và nhiều môn phối hợp khác. Điền kinh chủ yếu là môn thể thao cá nhân, với ngoại lệ là các cuộc đua tiếp sức và các cuộc thi mà kết hợp biểu diễn vận động viên như chạy băng đồng. Cơ sở của môn điền kinh chính là các động tác tự nhiên có tác dụng phát triển toàn diện về thể lực và tăng cường sức khỏe. Chính vì vậy, điền kinh được em là rất quan trọng trong giáo dục thể chất cũng như trong chương trình tập luyện vì sức khoẻ của mọi người.
Chạy cự ly ngắn Chạy cự ly ngắn bao gồm các cự ly t 20m – 400m, trong đó các cự ly 100m, 200m, 400m là các nội dung thi đấu chính thức trong các đại hội thể thao Olympic và các cuộc thi đấu lớn. Trong bài này chỉ giới thiệu chạy cự ly 100m. Tác dụng của chạy cự ly ngắn Ngoài việc giúp nâng cao thể lực chung, chạy cự ly ngắn giúp cho con người phát triển sự khéo léo, khả năng phối hợp vận động mà đặc biệt là sức mạnh tốc độ, giúp cho cơ thể trở nên săn chắc phát triển cân đối toàn diện. Các động tác k thuật Chạy cự ly 100m được chia làm 04 giai đoạn: Xuất phát, chạy lao sau uất phát, chạy gi a quãng và chạy về đích.
Xuất phát - Giới hạn: Giai đoạn này bắt đầu t khi người chạy vào bàn đạp đến khi chân rời khỏi bàn đạp. - Nhiệm vụ: Tận dụng mọi khả năng để uất phát nhanh và đúng luật. Trong chạy 100m, để uất phát được nhanh, phải dùng kỹ thuật uất phát thấp (kỹ thuật uất phát thấp có t năm 1887 với bàn đạp). Xuất phát thấp giúp ta tận dụng được lực đạp sau để cơ thể uất phát nhanh (do góc đạp sau gần với góc di chuyển).
Hình 1 - Bàn đạp luyện tập 12 Hình 2 - Bàn đạp dùng trong thi đấu Việc sử dụng bàn đạp giúp ta ổn định kỹ thuật và có điểm tựa v ng vàng để đạp chân lao ra khi uất phát. Thông thường có ba cách đóng bàn đạp. a) Kỹ thuật đóng bàn đạp - Cách đóng “phổ thông”: + Bàn đạp trước đặt cách đầu vạch uất phát 1 - 1,5 độ dài bàn chân; + Bàn đạp sau cách bàn đạp trước một khoảng bằng độ dài một cẳng chân, cách này phù hợp với nh ng người mới tập chạy cự li ngắn. - Cách đóng cách “ a”: Còn gọi là cách “kéo dài”, hay “kéo giãn”.
Các bàn đạp được đặt a vạch uất phát hơn. + Bàn đạp trước đặt cách vạch uất phát gần 02 bàn chân; + Bàn đạp sau cách bàn đạp trước 01 bàn chân hoặc gần hơn. Cách này thường phù hợp với người cao, sức mạnh của chân và tay bình thường. Đóng bàn đạp theo cách này, cự li chạy dài hơn cự li thi đấu 02 bàn chân.
- Cách đóng “gần”: Còn gọi là cách “dồn gần”. + Cả hai bàn đạp được đặt gần vạch uất phát hơn - bàn đạp trước đặt cách vạch uất phát có độ dài 1 bàn chân (hoặc ngắn hơn). + Bàn đạp sau đặt cách bàn đạp trước 1 đến 1,5 bàn chân. Bằng cách này, tận dụng được sức mạnh của 2 chân khi uất phát nên uất phát ra nhanh, nhưng thường phù hợp với nh ng người thấp có chân tay khoẻ.
Việc chân rời bàn đạp gần như đồng thời sẽ khó cho ta khi chuyển qua dùng sức đạp sau luân phiên t ng chân (ở trình độ thấp, dễ ảy ra hiện tượng bị d ng, 02 chân cùng nhảy ra khỏi bàn đạp). 13 Hình 3 - Ba cách đóng bàn đạp Dù theo cách nào, trục dọc của hai bàn đạp cũng phải song song trục dọc của đường chạy. Khoảng cách gi a hai bàn đạp theo chiều ngang thường là 10 - 15cm sao cho hoạt động của hai đùi không cản trở nhau (do hai bàn đạp gần nhau quá). Bàn đạp đặt trước dùng cho chân thuận (chân khoẻ hơn).
Góc độ của mặt bàn đạp: Góc gi a mặt bàn đạp trước với mặt đường chạy phía sau là 45O – 50O; bàn đạp sau là 60O – 80O.