MỞ ĐẦU Trong công cuộc đổi mới, để xây dựng Đất nước ngày càng vững mạnh, ngành Thể dục Thể thao (TDTT) cũng như các ngành khoa học khác đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nước nhà. Trên cơ sở những định hướng của Đảng và Nhà nước. Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 08-NQ/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, Thể thao đến năm 2020. Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới.
Trong dự án chiến lược của ngành, thể thao thành tích cao là một trong những chiến lược hàng đầu nhằm mục tiêu nhanh chóng tiếp cận với trình độ thể thao khu vực đồng thời từng bước tiếp cận với thể thao Châu Á và thế giới. Điều này đòi hỏi việc tìm tòi, sáng tạo để hoàn chỉnh quy chình đào tạo vận động viên (VĐV) mang tính khoa học với tất cả các môn thao, đặc biệt là môn thể thao xác định là mũi nhọn của ngành trong đó có võ thuật nói chung và môn Taekwondo nói riêng. Từ những năm 1962 Taekwondo đã được du nhập vào Việt nam biểu diễn, đến năm 1965 Taekwondo đã được truyền bá ở Sài gòn, năm 1988 Taekwondo đã được truyền bá ở Hà Nội cho tới nay. Chúng ta đã dành được rất nhiều huy chương ở sân chơi Châu Á, như VĐV Trần Quang Hạ, 2 Trần Hiếu Ngân, Nguyễn Xuân Mai, Trương Tuấn Vũ, Hồ Nhất Thống, Nguyễn Thị Kim Nga, Khúc Liễu Châu, Nguyễn Thị Huyền Diệu, Nguyễn Văn Hùng.
đạt được HCV SEA Games. Nhưng ở đấu trường Olympic thì chỉ có Trần Hiếu Ngân đạt HCB Olympic năm 2000. Qua khảo sát sơ bộ các VĐV Taekwondo nhận thấy, trình độ chuẩn bị thể lực của các VĐV còn hạn chế đặc biệt là tố chất sức bền chuyên môn. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có những bài tập phát triển tố chất thể lực nhằm bổ sung kịp thời, cho quá trình huấn luyện góp phần nâng cao tố chất thể lực nói chung và sức bền chuyên môn nói riêng cho các VĐV.
Để tiến hành xây dựng được một qui trình đào tạo VĐV khoa học hoàn chỉnh có tính hiệu quả cao thì bài tập thể lực chuyên môn đóng một vai trò quan trọng và được sự quan tâm đặc biệt của các nhà chuyên môn. Theo quan điểm của sinh lý TDTT thì có bốn tố chất thể lực chủ yếu sức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo khéo léo (khả năng phối hợp động tác). Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào các tố chất thể lực cũng không biểu hiện đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau. Đồng thời trong phần lớn các môn thể thao hoặc một vài tố chất thể lực được thể hiện rõ rệt nhất quyết định kết quả của hoạt động chung.
Mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năng của nhiều cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể. Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là phát triển và hoàn thiện các hệ chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi một loại hoạt động cơ bắp cụ thể. Huấn luyện thể lực là một trong những nhiệm vụ của quá trình huấn luyện. Quá trình huấn luyện môn Taekwondo bao gồm chuẩn bị về tố chất thể lực, kỹ - chiến thuật và tâm lý của VĐV để đạt thành tích cao là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Điều đó cho thấy sự chuẩn bị thể lực cho VĐV một cách đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để có thể giải quyết các nhiệm vụ của quá trình huấn luyện kỹ chiến thuật, tâm lý trong qúa trình huấn luyện môn Taekwondo. 3 Vấn đề phát triển tố chất thể lực cho VĐV Taekwondo đã được khá nhiều tác giả quan tâm như: Lý Đức Trường (1998), Lại Cao Kiên (1997), Hồ Anh Tuấn (1994), Phạm Văn Đàn (1997), Nguyễn Anh Tú (2000). Xong chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu các bài tập phát triển tố chất sức bền chuyên môn cho VĐV Taekwondo. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam vận động viên Taekwondo lứa tuổi 14 – 15”.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá thực trạng tố chất thể lực sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo, đề tài lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao sức bền chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả huấn luyện. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu 1. Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. - Lựa chọn các test đánh giá sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo.
- Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo. - Xác định tương quan giữa các test thể lực với các chỉ số chức năng đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo. - Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. - Phân loại đối tượng nghiên cứu theo bảng tiêu chuẩn xây dựng.
Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. - Thực trạng công tác huấn luyện sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. 4 - Phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. - Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15.
Giả thuyết khoa học của đề tài Từ kết quả khảo sát sơ bộ sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 còn nhiều hạn chế, đề tài đặt giả thuyết rằng, dưới góc độ sư phạm đề tài sẽ lựa chọn được các bài tập thể lực thì sẽ nâng cao sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khát quát về Taekwondo 1. Lịch sử phát triển Taekwondo 1.1 Lịch sử phát triển Taekwondo thế giới: Taekwondo là môn võ xuất phát từ Triều Tiên, là cách thức hay nghệ thuật đấu võ bằng tay và chân, là môn võ thuật bao gồm những kĩ thuật như: Đấm (Jireugi), đá (Chagi), đỡ (Makki) và những đòn đá bay (Twieo- chagi)… Theo lịch sử Taekwondo nguyên thủy có thể xuất hiện ở triều đại Koguryo được thành lập vào thế kỉ thứ 3 trước thiên chúa giáng sinh.
Sở dĩ điều này có thể khẳng định bởi vì đã khám phá được ở khu mộ hoàng gia có vẽ hình hai người đang đối mặt với nhau trong tư thế Taekyon, họa sĩ Muyong Chong vào thời ấy minh họa, cho nên điều này làm cho các nhà sử học cho là môn Taekyon đã có vào thời kì này. Cũng có sự kiện là môn võ Taekyon cũng có từ thời Silla (668-935). Silla là vương quốc được thành lập phía Đông-Nam còn triều đại Koguryoo 73 phía Bắc. Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập vào năm 8/2/1948, tháng 1-1946 Hong Choi Hi là một trung tá bộ binh, bắt đầu dạy thái cực đạo cho quân đội tại Kwang-ji, đến 1949 Hong Choi Hi là trung tá phục vụ tại bộ tư lệnh Hàn Quốc ở Ft.Rilley gần Topek, Kansan thuộc Mỹ và nơi đây ông đã biểu diễn, trình bày môn Thái Cực Đạo cho quân đội xem và cũng là lần đầu tiên môn võ này được quảng bá ở Mỹ.[45] Liên đoàn Taekwondo Thế Giới (The World Taekwondo Federation) viết tắt là WTF, được thành lập ngày 28-5-1973 tại Kukkiwon (Quốc kì quán) Seoul Hàn Quốc.
Với 53 quan chức đại diện các quốc gia trên thế giới. Tiến sĩ Un Yong Kim chủ tịch hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc 6 được bầu làm chủ tịch WTF lần đầu tiên (Việt Nam là thành viên chính thức của Liên Đoàn Taekwondo Thế Giới theo quyết định của kì họp hội đồng Taekwondo Thế Giới ngày 7-10-1989). hệ thống thi đấu của WTF bao gồm giải Vô Địch Thế Giới, Vô Địch Châu Lục, Vô địch Khu Vực và hệ thống thi đấu trẻ. Năm 1988 lần đầu tiên Taekwondo biểu diễn tại Thế Vận Hội Seoul Hàn Quốc đã được hoan nghênh nhiệt liệt đến năm 2000 Taekwondo đã chính thức được thi đấu trong thế vận hội Sydney Úc.2 Lịch sử phát triển Taekwondo Việt Nam.
Môn Taekwondo chính thức du nhập vào Miền Nam Việt Nam 1962, bắt đầu bằng các chuyến lưu diễn của các đoàn Taekwondo Triều Tiên và việc mở các lớp giảng dạy chính thức tại Sài Gòn do thầy Kim Boang Son đảm nhiệm. Khóa học huấn luyện viên đầu tiên cho người Việt Nam được tổ chức tại trường võ thuật Thủ Đức với sự tham gia của 63 võ sinh do võ sư Nam Tae Hi (huyền đai thất đẳng) phụ trách. Sau đó khóa 2, 3 cũng được tổ chức và lúc này con số huấn luyện viên được đào tạo lên tới vài trăm người. Sau khi tốt nghiệp những huấn luyện viên này trở về địa phương mở lớp huấn luyện viên.
Do tính quần chúng, tính khoa học của môn võ, đồng thời do yêu cầu, điều kiện tổ chức một lớp học quá đơn giản cho nên bộ môn này đã phát triển một cách nhanh chóng và sâu rộng trong quần chúng, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh. Sau năm 1975 do tình hình an ninh quốc gia nên Taekwondo không hoạt động rộng rãi. Cho đến năm 1988 Taekwondo được truyền bá ở Hà Nội và sở TDTT Hà Nội đã nhanh chóng triển khai kế hoạch đào tạo và phát triển đội ngũ huấn luyện viên. [45] Tháng 11 năm 1989 tổ chức giải TP.HCM mở rộng, vào thời điểm này trên cả nước có hơn 20 đơn vị tỉnh, thành, có phong trào tập luyện môn 7 võ Taekwondo.