PHẦN MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với một số môn thể thao của Việt Nam, môn bóng đá nữ đã đạt thành tích cao trong các cuộc tranh tài chính thức tại khu vực, châu lục và thế giới, được toàn xã hội thừa nhận, đánh giá cao, nhiệt tình ủng hộ và tự hào. Thành công đó do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản về tổ chức, quản lý đó là bước đầu hình thành được một hệ thống huấn luyện hiện đại, khoa học. Cũng như nhiều môn thể thao khác ở Việt Nam, bóng đá đã phát triển sâu rộng, và là môn thể thao quần chúng và truyền thống. Cùng với đó, bóng đá nữ Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định về thành tích ở khu vực và quốc tế: tại giải vô địch bóng đá nữ Châu Á, đội tuyển Việt Nam đã 7 lần vào vòng chung kết; tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những đội nữ mạnh nhất, với 5 lần vô địch Đại hội Thể thao Đông Nam Á, trong đó lần gần đây nhất là SEA Games 29 đã diễn ra tại Malaysia (năm 2017); tại giải vô địch bóng đá nữ Đông Nam Á, Việt Nam đã 2 lần vô địch giải đấu vào các năm 2006 và 2012; tại Đại hội Thể thao châu Á, thành tích cao nhất của đội tuyển nữ Việt Nam là vào tới bán kết năm 2014.
Cùng với sự phát triển của bóng đá nữ Việt Nam, từ năm 2009 đến nay, bóng đá nữ Hà Nội đã khẳng định ngôi vị số 1 trong làng bóng đá nữ toàn quốc với 5 Cúp vô địch, 2 HCB tại giải Vô địch quốc gia; 1 HCV môn bóng đá nữ Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VI - 2010. Đội U19 đã giành được 3 HCV, 2 HCB và vô địch lượt đi Giải Bóng đá nữ U19 quốc gia năm 2014. Năm 2012, đội bóng đá nữ khối THPT lần đầu tiên giành HCV cho Hà Nội tại Giải Bóng đá khối THPT Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc. Hàng năm, bóng đá nữ Hà Nội đóng góp cho đội tuyển quốc gia, đội U19 quốc gia từ 20 đến 25 VĐV.
Tại Giải Vô địch quốc gia năm 2014, đội tuyển nữ Hà Nội 1 đã xuất sắc đoạt cúp vô địch, đồng thời, ghi dấu mốc son lần thứ 10 bóng đá nữ Hà Nội vô địch quốc gia trong tổng số 17 kỳ giải. 2 Ngày nay, trước yêu cầu cao của quá trình đào tạo VĐV bóng đá đòi hỏi bên cạnh các bài tập phát triển tố chất thể lực, phải đặc biệt chú ý tới những bài tập nhằm phát triển tố chất thể lực chuyên môn ưu thế, đặc biệt là sức bền. Sức bền là khả năng khắc phục mệt mỏi, duy trì hoạt động và nhanh chóng hồi phục của VĐV. Sức bền chuyên môn cần thiết cho VĐV bóng đá gồm sức bền ưa khí, sức bền yếm khí chung và sức bền yếm khí cục bộ.
Tố chất sức bền chuyên môn có ý nghĩa quyết định vì nó là cơ sở, là tiền đề phát huy tối đa khả năng làm việc của các cơ quan chức phận và các tố chất vận động khác, phù hợp với đặc điểm của từng môn thể thao, tạo điều kiện thuận lợi cho tập luyện và thi đấu, đảm bảo hiệu quả sử dụng kỹ - chiến thuật trong suốt thời gian thi đấu. Sức bền chuyên môn giúp cho VĐV phát triển khả năng hoạt động, khối lượng tập luyện và thi đấu có hiệu quả trong suốt thời gian dài. Sức bền chuyên môn trong thi đấu đảm bảo cho VĐV giữ được nhịp độ trận đấu với hiệu suất thi đấu ổn định và luôn phát huy được các ưu điểm về kỹ - chiến thuật. Ngoài ra, sức bền chuyên môn đóng vai trò quyết định trong những trận đấu căng thẳng, đồng thời làm cho VĐV không nản chí khi bị đối phương dẫn điểm.
Sức bền chuyên môn là một yếu tố quyết định đến sự phát triển toàn diện thể lực cho VĐV. Thực tiễn công tác huấn luyện VĐV bóng đá nữ ở Việt Nam cho thấy, chất lượng đào tạo các VĐV đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh mà VĐV bóng đá nữ đã đạt được như kỹ, chiến thuật… còn một nhược điểm rất lớn cần phải khắc phục đó là: Trình độ thể lực, đặc biệt là sức bền chuyên môn của VĐV còn rất hạn chế. Điều này được bộc lộ qua khả năng thi đấu của các VĐV bóng đá nữ còn kém đặc biệt vào những thời điểm cần phát huy nỗ lực tối đa trong trận đấu.
Trong huấn luyện VĐV bóng đá nữ, đòi hỏi phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu lĩnh kỹ thuật, chiến thuật, trạng thái tâm lý, môi trường và phương tiện tập luyện với phát triển tố chất thể lực, đặc biệt là sức bền chuyên 3 môn. Một VĐV có thể lực tuyệt vời nhưng nếu thiếu kỹ thuật, chiến thuật, yếu tố tâm lý… thì không thể chiến thắng được đối phương. Ngược lại, nếu một VĐV có các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, yếu tố tâm lý… tốt mà thiếu thể lực thì cũng khó có thể chiến thắng được đối phương. Trong thi đấu bóng đá, việc chạy bộ liên tục trong vòng 90 phút liền dù ở bất cứ cường độ nào đi chăng nữa cũng đòi hỏi ở VĐV một sức chịu đựng cũng như thể lực cao.
Chính vì thế, những cầu thủ bóng đá thường có giới hạn sức bền cao hơn hẳn so với người bình thường. Các cầu thủ cũng thường tập các bài tập rèn luyện sức bền trước khi chính thức đi thi đấu. Điều này đồng nghĩa với việc họ có thể chuyển từ đi bộ sang trạng thái chạy nước rút cũng như có thể hồi phục nhanh để làm điều này liên tục trong suốt trận đấu. Vì thế, huấn luyện phát triển sức bền chuyên môn sẽ đảm bảo phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa nâng cao năng lực tố chất của cơ thể VĐV với việc nâng cao năng lực tâm lý, có tác dụng tích cực đến việc giáo dục các phẩm chất, nhân cách, đặc biệt là giáo dục ý chí cho VĐV.
Điều này được thể hiện ở những cố gắng nỗ lực hoàn thành khối lượng tập luyện, phấn đấu vượt qua được những thành tích của bản thân để vươn tới các thành tích mới, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, chủ động sáng tạo trong thi đấu. Xu hướng phát triển của bóng đá hiện đại đòi hỏi ở VĐV khả năng thích ứng cao với lượng vận động lớn và khả năng ổn định tâm lý cao trong thời gian dài. Do đó, việc huấn luyện sức bền chuyên môn cho VĐV bóng đá nữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là khâu không thể thiếu trong quá trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo VĐV bóng đá trẻ (lứa tuổi 16 - 17), mà vấn đề này cho đến nay các HLV vẫn chưa thực sự coi trọng trong công tác đào tạo - huấn luyện. Qua tìm hiểu thực tế công tác huấn luyện nữ VĐV bóng đá trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay cho thấy, quá trình huấn luyện tố chất thể lực, đặc biệt là sức bền chuyên môn cho VĐV chủ yếu theo kinh nghiệm của các nhà chuyên môn, cụ thể là sau khi cho VĐV tập luyện thường xuyên trong thời 4 gian nhất định, nếu tăng trưởng về các tố chất thể lực, kỹ thuật, có ý thức chiến thuật thì tiếp tục giữ lại để đào tạo, hoặc VĐV yếu tố chất thể lực nào thì HLV sẽ tăng cường huấn luyện các tố chất thể lực đó.
Cách thức huấn luyện theo kinh nghiệm truyền thống này có tác dụng nhất định nhưng chưa đủ cơ sở khoa học. Mặt khác, qua theo dõi các trận thi đấu của nữ VĐV bóng đá các câu lạc bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy, điểm yếu về mặt thể lực của VĐV đã được thể hiện rõ rệt, các VĐV không đủ sức di chuyển trong suốt trận đấu, đặc biệt vào các thời điểm nửa cuối hiệp thi đấu thứ hai, dẫn đến khả năng phối hợp chiến thuật, khả năng định hướng, phán đoán và di chuyển trong phòng thủ còn chậm, sự phối hợp tấn công còn ở mức độ trung bình về các mặt kỹ - chiến thuật, thể lực cũng như tâm lý thi đấu. Vì thế, vấn đề nghiên cứu lựa chọn được các phương tiện và phương pháp huấn luyện phát triển sức bền chuyên môn cho nữ VĐV bóng đá lứa tuổi 16 - 17 trên địa bàn thành phố Hà Nội là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn đào tạo nữ VĐV bóng đá trẻ hiện nay. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, vấn đề phát triển sức bền chuyên môn cho VĐV các môn thể thao nói chung và nữ VĐV bóng đá trẻ nói riêng là một điều cấp bách không thể thiếu được.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV các môn thể thao đã thu hút nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên còn chưa nhiều. Các công trình nghiên cứu về phát triển tố chất sức bền chuyên môn cho VĐV các môn thể thao đã có giá trị khoa học ứng dụng tốt, nhưng số lượng còn hạn chế, đặc biệt trong môn bóng đá nữ hiện nay thì hầu như chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ. Trước hết, phải kể đến các công trình khoa học nhằm nghiên cứu về các tố chất thể lực chuyên môn riêng lẻ của VĐV các môn thể thao như: Trần Tuấn Hiếu (2004), Lê Hồng Sơn (2006), Nguyễn Đương Bắc (2007), Ngô Ích Quân (2007), Vũ Xuân Thành (2012), Phạm Văn Diện (2014), Lê Trí Trường (2012)… Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã xây dựng được hệ 5 thống các nội dung, tiêu chuẩn và hệ thống các bài tập phát triển tố chất thể lực chung và thể lực chuyên môn cho VĐV một số môn thể thao ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu và giai đoạn chuyên môn hoá sâu. Song song với các công trình này là các công trình nghiên cứu nhằm phát triển các tố chất thể lực riêng lẻ cho VĐV bóng đá như: Nguyễn Đăng Chiêu (2004), Nguyễn Đức Nhâm (2005); Phạm Xuân Thành (2007), Trần Duy Hòa (2012), Võ Văn Quyết (2016)… Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã xác định hệ thống các nội dung, tiêu chuẩn đánh giá năng lực chuyên môn, đánh giá sự phát triển các chức năng tâm - sinh lý; cũng như xác định hệ thống các bài tập phát triển các tố chất sức bền chuyên môn, sức mạnh, sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá các lứa tuổi ở các giai đoạn huấn luyện khác nhau.