CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của môn súng trường thể thao Bắn súng là một môn thể thao mang tính chất trí tuệ, hoạt động tĩnh lực, hoạt động thần kinh nhiều hơn hoạt động cơ bắp. Môn Bắn súng thể thao đòi hỏi người tập phải có thần kinh vững vàng, tính khéo léo thực hiện kỹ thuật động tác mà còn phải có thể lực tốt thể hiện ở sức mạnh của các cơ tham gia giữ im súng cùng với thể lực chung và thể lực chuyên môn khi bắn trong nhiều giờ liền mà mức độ chính xác không bị giảm sút. Đặc điểm môn súng trường thể thao nam (3x40): Là môn bắn tương đối khó nhưng có độ hấp dẫn rất cao.
Bài bắn của môn súng trường thể thao nam (3x40) bao gồm 3 tư thế: Quỳ bắn, nằm bắn, đứng bắn [34], [51]. Súng trường thể thao bao gồm rất nhiều loại súng. Nhưng hiện nay được sử dụng rộng rãi để tập luyện và thi đấu đó là loại súng trường tự chọn Anschutz–Moden 1913 do Đức chế tạo là một loại súng tốt có độ chính xác cao, chuyên dùng để bắn tập và bắn thi đấu ở cự ly 50m. Tư thế quỳ bắn súng trường thể thao Hình 1.
Tư thế quỳ bắn súng trường thể thao 7 Đặc điểm kỹ thuật: Quỳ bắn tương đối khó hơn nằm bắn vì quỳ bắn, trọng tâm của hệ thống “người - súng” ở một vị trí tương đối cao. Tư thế này dựa trên 4 điểm tựa là bàn chân trái, đầu gối phải, mũi chân phải, bao cát và một điểm chống đỡ không gian - khuỷu tay trái chống lên thông qua dây đeo súng và vai tỳ để hình thành tư thế quỳ ngắm bắn [34], [51]. Tư thế động tác quỳ bắn: Nửa mặt của VĐV xoay sang phải, đầu gối bên phải quỳ trên đất, mông tỳ lên gót chân phải. Có thể lót bao cát dưới lòng bàn chân phải để bao cát chống đỡ phần lớn trọng lượng của cơ thể.
Thân trên hơi ưỡn ra trước tự nhiên nhưng không được ưỡn quá xa. Cơ bắp thả lỏng, thân hơi xoay sang trái, má kề vào báng súng. Cánh tay trái đeo dây đeo súng để giảm sự dao động - nòng súng, khuỷu tay trái tỳ lên đầu gối trái, tay trái đặt dưới phần tay ốp bằng gỗ của súng. Tay phải cầm súng thật chắc chắn, khuỷu tay phải không tỳ vào đâu, cánh tay phải buông tự nhiên [34], [51].
Bàn chân phải của VĐV đặt lên chính giữa của bao cát, mông đặt lên gót chân phải, chân phải để vuông góc với mặt đất hoặc xoay 10-20o về bên phải. Chân trái đưa ra và hợp thành hình tam giác cùng mũi chân phải và đầu gối phải, cẳng chân phải hợp với hướng bắn tạo thành góc 60°-65°. Cột sống hơi cong xuống để trọng lượng thân trên dồn xuống bao cát. Cẳng chân trái để thẳng đứng hoặc hơi nghiêng về phía sau hoặc trước, bàn chân xoay vào trong, tạo thành góc 30°-45° so với hướng bắn [34], [51].
Sau khi chỉnh song dây đeo súng, cánh tay và cẳng tay trái hợp thành góc 95-110°. Khuỷu tay chống lên đầu gối. Sau khi cầm súng, cánh tay phải thả lỏng tự nhiên, hợp thành góc khoảng 35° so với cơ thể. Báng súng tỳ vào sát bên trong hõm vai (ở giữa phần cơ delta và cơ ngực).
Tay phải nắm chắc súng, duy trì sự ổn định cân bằng giữa “cơ thể và súng”. Đầu hơi nghiêng về phía má kề báng súng, cố gắng duy trì thả lỏng cơ ở phần cổ [34], [51]. Tư thế nằm bắn súng trường thể thao Hình 2. Tư thế nằm bắn súng trường thể thao Đặc điểm kỹ thuật: Trong các tư thế bắn súng thể thao thì nằm bắn là tư thế dễ hơn cả.
Đây là tư thế thực hiện kỹ thuật động tác có tính ổn định cao, diện tích chân đế lớn. Thông thường khi nằm bắn súng ít bị rung động và đạt thành tích cao hơn so với các tư thế khác. Bởi vì khi nằm bắn, trọng tâm của hệ thống “cơ thể - súng” ở vị trí tương đối thấp, diện tích của thân người tiếp xúc với mặt đất lại lớn, đồng thời các cơ bắp của VĐV hoạt động tương đối thuận lợi, ít bị căng thẳng [34], [51]. Tư thế động tác nằm bắn: Góc nhọn giữa phương bắn và thân người bắn khoảng 20-30o về hai phía, phần đùi duỗi thẳng hoặc đùi phải co gập lại.
Hai chân duỗi tự nhiên, thoải mái, tránh cơ đùi bị căng, khuỷu tay trái hơi hướng về trước một cách tự nhiên và hơi duỗi sang phải một chút, để phần khuỷu phía sau bên trái chạm đất, cánh tay và cẳng tay duy trì một góc vừa phải, tạo với mặt đất thành một góc lớn hơn 30o, trong khi cánh tay và mặt đất duy trì một góc khoảng 45o. Dây đeo súng được đeo tại vị trí giữa cơ delta và xương chỏm hai đầu bên trái. Sau khi cầm súng lên, cánh tay trái phải thẳng hàng với súng. Vai chống phải thấp hơn vai phải và nằm trong vị trí hõm vai phải, sát với xương quai xanh chạm vào đệm, tay ôm chắc phần tay cầm của súng ngón trỏ và phần ốp tay gỗ 9 của súng phải chừa ra một khoảng không.
Khi áp má ngắm bắn đầu thẳng không chúi quá về phía trước hoặc nghiêng sang phải quá nhiều [34], [51]. Tư thế đứng bắn súng trường thể thao Hình 3. Tư thế đứng bắn súng trường thể thao Đặc điểm kỹ thuật: Đứng bắn là tư thế khó nhất trong môn Bắn súng trường vì khi đứng bắn trọng tâm chung của cả hệ thống “cơ thể - súng” rất cao, diện tích hình chân đế nhỏ, việc cố định và duy trì trọng tâm chủ yếu dựa vào khung xương và các cơ khác buộc VĐV phải ở trong trạng thái không tự nhiên và không đối xứng, làm thay đổi tải trọng bình thường lên các cơ một cách rõ rệt. Thêm vào đó hệ thống cơ phải hoạt động gắng sức nhiều để giữ vững tư thế người và súng được cân bằng và ổn định, thân người hơi ngả về sau và nghiêng sang phải, tay ép sát vào mạng sườn làm cho các cơ quan nội tạng hoạt động khó khăn và chóng mỏi mệt [34], [51].
Tư thế động tác đứng bắn: Hướng của vai trái thẳng với mục tiêu, tạo thành góc 90° với hướng bắn. Hai chân rộng bằng chiều rộng của hai vai, mũi bàn chân mở tự nhiên, hông song song với hai chân, trọng tâm “cơ thể và súng” 10 dồn vào ở bàn chân trước của hai chân. Bụng dưới và hông trái căng tự nhiên, thân trên vững. Vai tỳ báng súng hướng về hướng và mục tiêu.
Cột sống hơi nghiêng về bên phải, phần lưng dưới hơi ngả về sau. Sau đó hai vai trước tiếp tục hơi cuộn về phía trước một chút, đối diện với mục tiêu và hình thành một hình chữ S. Cánh tay trái ép chặt vào tỳ lên thân người, cẳng tay cố gắng thu về giữ cho thẳng. Tay phải cầm vào báng súng để ngón trỏ động tự nhiên và không tiếp xúc với cổ báng súng.
Đế của báng súng tỳ chặt vào khớp vai phải, vai trái thả lỏng tự nhiên. Đầu thẳng, áp má tự nhiên, mắt nhìn thẳng [34], [51]. Đặc điểm quá trình huấn luyện nhiều năm trong quá trình đào tạo vận động viên trẻ Huấn luyện thể thao là một quá trình sư phạm thống nhất, vận dụng các quy luật chung về sự phát triển nhân cách và năng lực thể thao. Ngoài ảnh hưởng của di truyền, hiệu quả huấn luyện thể thao phần lớn phụ thuộc quá trình luyện tập, môi trường và xã hội.
Hệ thống kiểm tra đánh giá mức độ thích ứng tập luyện và sức khoẻ của VĐV là một trong những yếu tố thành phần quan trọng của quá trình huấn luyện nhiều năm. Chỉ trên cơ sở làm rõ đặc điểm các giai đoạn của quá trình huấn luyện nhiều năm, thì việc lựa chọn các chỉ tiêu và xác định các tiêu chuẩn đánh giá mức độ thích ứng tập luyện của VĐV mới đảm bảo được tính định hướng mục tiêu đào tạo của từng giai đoạn và của cả hệ thống. Khái niệm quá trình huấn luyện nhiều năm được các chuyên gia trong nước diễn giải theo những cách khác nhau, với những tên gọi khác nhau, song vẫn có sự thống nhất với nhau về quan điểm. Theo quan điểm của Harre.D quá trình đào tạo VĐV chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ (tạo nên các tiền đề chung và chuyên môn cho thành tích thể thao cao nhất) và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao.
Trong đó, giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ chia thành hai giai đoạn nhỏ là huấn luyện ban đầu và chuyên môn hoá [14].P cho rằng quá trình đào tạo VĐV 11 trẻ gồm bốn giai đoạn: (1) Huấn luyện ban đầu; (2) Chuyên môn hoá từ 9-10 tuổi; (3) Chuyên sâu môn thể thao lựa chọn từ 11-15 tuổi; (4) Hoàn thiện thể thao 16 tuổi trở lên [32], [37]. Quan điểm của các tác giả Nôvicôp A.P lại chia quá trình huấn luyện thể thao nhiều năm thành bốn giai đoạn lớn: (1) Chuẩn bị thể thao sơ bộ; (2) Chuyên môn hoá thể thao bước đầu; (3) Hoàn thiện sâu; (4) Tuổi thọ thể thao. Trong đó, mục tiêu của giai đoạn chuyên môn hoá bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho những thành tích tương lai [33].V, Geran Pett, Vovk X.I có một số điểm tương đồng khi cho rằng: Đánh giá quá trình huấn luyện đi liền với đánh giá trình độ thể lực để xác định năng lực tiềm tàng của VĐV nhằm đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao lựa chọn. Năng lực này được biểu hiện cụ thể mức chuẩn bị về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức - ý chí và trí tuệ.
Giữa trình độ thể lực và trình độ tập luyện có mối liên quan đến nhau, nó phụ thuộc vào yêu cầu vận động chuyên môn của môn thể thao sở trường [1], [15], [59]. Tác giả Tạ Văn Vinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Trọng chia quá trình huấn luyện VĐV trẻ thành 4 giai đoạn: (1) Huấn luyện sơ bộ; (2) Huấn luyện ban đầu; (3) Huấn luyện chuyên môn hoá; (4) Hoàn thiện thể thao. Huấn luyện ban đầu còn được gọi là giai đoạn dự bị năng khiếu [58]. Dưới quan điểm tuyển chọn tài năng thể thao, theo tác giả Nguyễn Ngọc Cừ, Bùi Quang Hải, Nguyễn Kim Xuân, Vũ Chung Thủy, Nguyễn Danh Hoàng Việt thì giai đoạn chuyên môn hóa khoảng 4 – 6 năm.
Giai đoạn này nên đào thải những VĐV phát dục sớm, cuối mỗi năm, nên tổ chức đánh giá trình độ tập luyện để tuyển chọn lại.