Chương 1 trình bày khái niệm văn hóa và các khái niệm có liên quan như văn minh, văn hiến, văn vật; đồng thời làm rõ các đặc trưng, chức năng cũng như cấu trúc của hệ thống văn hóa. Từ các vấn đề này, người học sẽ nhận biết được, con người làm ra văn hóa nhưng văn hóa lại định hướng cho con người kiến thiết xã hội với những giá trị nhân văn phổ biến và hướng xã hội theo Chân, Thiện Mỹ. Hơn nữa, chương này cũng xác lập được phương pháp luận nghiên cứu văn hóa: xét văn hóa và con người trong một chỉnh thể thống nhất, trong sự tương tác của các yếu tố cấu thành xã hội, trong sự vận động và liên kết của các nhân tố tạo thành đời sống tinh thần, đời sống văn hóa. Khái niệm văn hoá Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa và nó chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, từ “văn hóa” dùng để chỉ học thức, tính cách, nhận thức…, theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn văn hóa. Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ ăn mặc cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Với cách hiểu theo nghĩa rộng này, văn hóa mới là đối tượng đích thực của văn hóa học và là cách tiếp cận của bộ môn Cơ sở văn hóa Việt Nam. Ở cách tiếp cận từ nguyên, “văn hoá” là sản phẩm do con người sáng tạo ra và xuất hiện sớm trong đời sống xã hội loài người. Ở phương Đông, từ “văn hoá” có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Ở phương Tây, người Pháp, người Nga có từ “kuitura” để chỉ “văn hóa”. Những chữ này có chung gốc Latinh - “cultus animi” là “trồng trọt tinh thần”. Vậy từ “cultus” là văn hoá với hai khía cạnh: một là trồng trọt, giúp con người thính ứng với tự nhiên và khai thác tự nhiên; hai là giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ ngoài những bản năng con vật tự nhiên, có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy nhiên, việc xác định và sử dụng khái niệm “văn hoá” không đơn giản và có sự thay đổi theo thời gian.
Vào thế kỉ XVII – XVIII, thuật ngữ “văn hoá” được sử dụng với nghĩa “canh tác tinh thần” bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp. Tới thế kỉ XIX, thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả Phương Tây cho rằng, văn hoá (văn minh) thế giới được phân loại từ trình độ thấp đến trình độ cao và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. Họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh.
Taylor là đại diện của 12 trường phái này. Theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội (E. Federico Mayor (1989), Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” (Tạp chí “Người đưa tin UNESCO”, số 11-1989, tr. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise.
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm (2021): “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Theo tác giả Lê Văn Chưởng (1999): “Văn hoá là một tổng thể phức hợp về những giá trị vật chất và tinh thần do con người kiến tạo có tính đặc thù của mỗi dân tộc“. Từ năm 1943, trong mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2002, t. Tóm lại, trong phạm vi tài liệu này, “văn hóa” được hiểu là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 2021). Đặc trưng và chức năng của văn hóa 1. Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội Đặc trưng này để phân biệt hệ thống với tập hợp, giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
Văn hóa do nhiều yếu tố hợp thành (ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng…). Các 13 yếu tố này có quan hệ đan cài, móc xích, quy định và chi phối lẫn nhau tạo thành một hệ thống. Văn hóa là một hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra. Nó cung cấp những chuẩn mực giá trị, những kiến thức ổn định về thiên nhiên và xã hội để cộng đồng ứng xử.
Xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những làng xã, quốc gia, đô thị, hội, nhóm,… mà giới động vật chưa hề biết tới, đó là nhờ văn hóa. Làng xã, quốc gia, đô thị… của mỗi dân tộc lại khác nhau, điều đó cũng do sự chi phối của văn hóa. Chính tính hệ thống của văn hóa là cơ sở cho chức năng tổ chức xã hội. Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội Trong từ “văn hóa” thì “văn” có nghĩa là đẹp, là giá trị.
Văn hóa chứa cái đẹp, cái có giá trị. Các giá trị văn hóa có nhiều căn cứ để phân loại. Theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất, giá trị tinh thần. Theo ý nghĩa, có giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ.
Theo thời gian là giá trị vĩnh cửu, giá trị nhất thời. Văn hóa giúp con người thích ứng với sự biến đổi của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội, giúp con người không ngừng hoàn thiện mình. Nhờ có chức năng điều chỉnh xã hội, văn hóa trở thành mục tiêu và là động lực của sự phát triển trong xã hội loài người.
Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp Tính nhân sinh của văn hóa giúp phân biệt loài người sáng tạo và loài vật bản năng, phân biệt được văn hóa là một hiện tượng xã hội so với những giá trị tự nhiên sẵn có. Văn hóa phải là thành quả sáng tạo của loài người, do con người sáng tạo ra. Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây liên kết con người với con người. Văn hóa tạo ra những điều kiện để giao tiếp và chính văn hóa lại là sản phẩm của giao tiếp.
Tính lịch sử và chức năng giáo dục Tính lịch sử của văn hoá thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và tích luỹ qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử giúp cho văn hóa có một bề dày và nó được duy trì bằng truyền thống văn hóa – những giá trị mang tính ổn định tương đối. Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục bằng chính những giá trị truyền thống mang tính ổn định và bằng cả những giá trị đang hình thành. Nó tạo nên một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới để hoàn thiện.
Nhờ đó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người. Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của tịch sử: Nó là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người cho các thế hệ mai sau. Các khái niệm liên quan 1. Văn minh Văn minh là danh từ Hán - Việt (văn (文) là vẻ đẹp, minh (明) là sáng), chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.
Trong tiếng Anh, tiếng Pháp, thuật ngữ “civilisation” để chỉ nghĩa là văn minh. Từ này có nguồn gốc Latinh là “civitas”, để chỉ đô thị, thành phố, và các nghĩa phái sinh: thị dân, công dân. Với nghĩa này, từ “văn minh” dùng để chỉ sự tiến bộ xã hội, gắn liền với xã hội tư sản, là một kiểu xã hội tiến bộ hơn (có hiến pháp, có quyền công dân) so với xã hội phong kiến. Ở một phương diện khác, từ “văn minh” được dùng để chỉ trình độ phát triển của kỹ thuật (văn minh đồ đá, văn mình đồ đồng, văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp).
Tóm lại, khi nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến các tiện nghi vật chất. Văn minh là giai đoạn phát triển của xã hội đối lập với giai đoạn mông muội, dã man. Như vậy, văn minh khác văn hoá ở ba điểm: - Một là, trong khi văn hoá có bề dày lịch sử thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển của văn hoá ở từng giai đoạn. - Hai là, trong khi văn hoá là một khái niệm bao trùm cả giá trị về vật chất và tinh thần thì văn minh thiên về giá trị vật chất, khoa học, kỹ thuật.
- Ba là, trong khi văn hoá mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh thường mang tính quốc tế. Văn hiến “Hiến” theo tiếng Hán Việt có nghĩa là kỷ cương. Từ điển thường định nghĩa văn hiến là “truyền thống văn hóa lâu đời”. Từ “văn hiến” trong tác phẩm này là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hoá cao, trong đó coi trọng nếp sống tinh thần, đạo lý.
Văn hiến chỉ truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp.