Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÃ HỘI HÓA THỂ DỤC THỂ THAO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm Quản lý nhà nước 1. Khái niệm Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của sự phân công và tương tác của lao động, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau như sinh học, xã hội học, kỹ thuật.
Nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu” [9, tr. “Quản lý là hoạt động của những người điều khiển, điều tiết tổ chức thực hiện mọi công việc của đơn vị vì mục tiêu chung” [9, tr.
Trên đây là những quan điểm khác nhau về quản lý, tuy có cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu trung khái niệm quản lý là: Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức. Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực nhằm đạt được mục đích của nhóm. Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ 9 quan hay nói rộng hơn là một nhà nước. Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Như vậy khái niệm quản lý có thể được hiểu: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng. Quản lý nhà nước Khái niệm QLNN đã được nhiều nhà khoa học đề cập ở những góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, tập trung ở một số khái niệm cơ bản sau: “QLNN là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật” [9, tr 45].
Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp; theo nghĩa hẹp, QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp; bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản 10 mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước.
“Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật” [9, tr 35]. Quản lý nhà nước về Thể dục thể thao Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua cách thức rèn luyện thân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con người phát triển cân đối, hợp lý. Từ khái niệm QLNN, khái niệm TDTT, có thể khái quát khái niệm QLNN về TDTT là thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước thông qua các thể chế và các tổ chức của ngành TDTT để chỉ đạo, quản lý các hoạt động TDTT. Chủ thể QLNN về TDTT đã được đề cập khá đầy đủ ở tại điều 5 Luật Thể dục, thể thao đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 như sau: Điều 5.
Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao. + Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thể dục thể thao. + Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao. + Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao theo thẩm quyền.
11 + Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở địa phương theo phân cấp quản lý của Chính phủ. Khái niệm Quản lý Nhà nước về Xã hội hóa thể dục thể thao 1. Xã hội hóa Nhiều năm trở lại đây, thuật ngữ “XHH” đã xuất hiện nhiều trong các văn bản của Đảng và Nhà nước cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên cho đến nay, liên quan đến khái niệm XHH cũng có nhiều ý kiến khác nhau do đó cần nghiên cứu để tìm ra sự thống nhất trong cách quan niệm về XHH. Một số thuật ngữ hành chính của PGS.
Bùi Thế Vĩnh cho rằng: “XHH là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước”[30, tr 10]. Mặt khác, XHH là thuật ngữ dùng để chỉ việc tăng cường sự quan tâm, tham gia rộng rãi của xã hội (các cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng…) về cả vật chất và tinh thần vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị hay một ngành chức năng thực hiện. Hiện nay, cũng có nhiều quan niệm đồng nhất XHH với tư nhân hóa. Điều này xuất phát từ việc chuyển dần những dịch vụ trước đây do nhà nước đảm nhận sang cho tư nhân đảm nhận.
Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa XHH với tư nhân hóa chính là việc Nhà nước vẫn là chủ thể có trách nhiệm lớn nhất, chỉ đạo, giám sát các dịch vụ đã được XHH. Nhà nước luôn khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tư nhân cung cấp dịch vụ công hoạt động với mục tiêu phi lợi nhuận. Phi lợi nhuận ở đây có thể hiểu là trong phần lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được, Nhà nước khuyến khích sử dụng phần lớn lợi nhuận cho đầu tư phát triển mới hoặc thực hiện trợ cấp xã hội, giúp đỡ người nghèo… 12 Hoặc cũng có những quan niệm cho rằng XHH chỉ là việc thu hút tiền của, vật chất của nhân dân. Thực ra, XHH ngoài việc thu hút vật lực và tài lực thì thu hút nhân lực cũng là vấn đề quan trọng.
Nhân lực bao gồm cả những vấn đề về thể chất, trí tuệ và tinh thần của nhân dân. Bên cạnh đó, một số quan niệm cũng chỉ ra rằng XHH chỉ là những công việc được thực hiện trong khu vực ngoài Nhà nước. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển chung, ngoài việc tăng cường sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước trong phát triển dịch vụ XHH thì khu vực nhà nước mà đặc biệt là những đơn vị sự nghiệp công cũng phải tự đổi mới cơ chế hoạt động của mình. Đây cũng chính là một trong những nội dung của XHH.
Để có đường lối, chính sách đúng đắn thì quan niệm về vấn đề phải thật chính xác, khoa học và khách quan. Do đó, cần có cách hiểu thống nhất về XHH TDTT. Xã hội hóa về thể dục thể thao XHH TDTT là một phương thức, giải pháp chiến lược để phát triển TDTT trong giai đoạn nhất định. Xét về mặt lý luận và thực tiễn có thể thấy rằng đây là sự chuyển dịch cơ bản về quan điểm, tổ chức, quản lý (phương thức hoạt động, chỉ đạo, phối hợp và phân công lao động trên lĩnh vực TDTT…) “nhằm biến sự nghiệp TDTT trở thành sự nghiệp do dân, vì dân và toàn bộ xã hội đều phải có trách nhiệm, có nghĩa vụ phát triển sự nghiệp TDTT của nước nhà” [20, tr 50].
Kinh tế nói chung và kinh doanh TDTT nói riêng là một xu hướng quan trọng để thực hiện chủ trương XHH trong lĩnh vực TDTT, chuyển sự nghiệp TDTT ở nước ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Quan điểm XHH TDTT của Đảng nhằm huy động tiềm năng to lớn của nhân dân để cùng Nhà nước xây dựng một nền TDTT xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước và phục vụ lợi ích của nhân dân lao 13 động. Đây có thể coi là chủ trương là điểm tựa đưa TDTT nước ta vận hành trong cơ chế thị trường.