Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Xây dựng chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Kiên thực hiện, thuộc chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 9140101), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tiên Tiến (Cán bộ hướng dẫn 1) và GS.TS Nguyễn Xuân Sinh (Cán bộ hướng dẫn 2) tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2018.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của đề tài xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của phong trào tập luyện Aerobic (Thể dục Nhịp điệu) tại Việt Nam, đặc biệt là nhu cầu rèn luyện thể chất trong hệ thống trường học và các câu lạc bộ thể thao. Theo số liệu thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, địa bàn thành phố có khoảng 1830 trường Mầm non, Nhà trẻ, Nhóm trẻ (công lập và tư thục); 498 trường Tiểu học; 259 trường Trung học Cơ sở (THCS) và 188 trường Trung học Phổ thông (THPT). Đại đa số các cơ sở giáo dục Mầm non, Tiểu học và THCS đều có nhu cầu tổ chức tập luyện Aerobic. Tuy nhiên, nguồn nhân lực giảng dạy môn học này đang gặp nghịch lý "vừa thừa vừa thiếu": sinh viên tốt nghiệp cử nhân Thể dục Thể thao (TDTT) từ các trường đại học thường tìm việc tại các bậc học cao hơn hoặc cơ quan quản lý, rất hiếm khi đứng lớp tại các trường Mầm non và Tiểu học. Trách nhiệm giảng dạy tại các cơ sở này chủ yếu do lực lượng thuộc các công ty, câu lạc bộ tư nhân đảm nhiệm nhưng lại chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ chuyên môn và phương pháp sư phạm, tiềm ẩn nguy cơ gây tổn thương đến cấu trúc hình thái và sự phát triển thể chất của trẻ em. Mặt khác, các khóa bồi dưỡng của Liên đoàn Thể dục Việt Nam và Hội Aerobic TP. Hồ Chí Minh thường có thời lượng ngắn, tài liệu giản đơn, thiếu nền tảng lý luận hoặc hạn chế về chức năng pháp lý đối với học viên ngoài địa phương. Do đó, việc xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn hóa, phân cấp rõ ràng tại Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh là yêu cầu cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các nội dung, yêu cầu và khối lượng kiến thức cần thiết để xây dựng chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic gồm 4 cấp độ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn xã hội, phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn của Liên đoàn Thể dục Thế giới (FIG) và có thể ứng dụng trong hệ thống đào tạo của Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh cũng như chuyển giao cho các Liên đoàn Thể dục.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 mục tiêu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Đánh giá thực trạng nhu cầu học tập và công tác giảng dạy môn Aerobic tại các trường học, câu lạc bộ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam Việt Nam.
- Xây dựng và ứng dụng các chương trình đào tạo hướng dẫn viên môn Aerobic tại trường Đại học Thể dục Thể Thao TP. Hồ Chí Minh.
- Đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo hướng dẫn viên môn Aerobic của Trường ĐH TDTT TP. Hồ Chí Minh.
Giả thuyết khoa học của luận án gồm 3 nội dung:
- Không có sự khác biệt về nhu cầu tham gia tập luyện giữa các đối tượng môn Aerobic (Câu lạc bộ, Mầm non, Tiểu học, THCS...); về chất lượng đào tạo giữa các đối tượng tham gia học tập; cũng như về chất lượng giảng dạy của chương trình đào tạo các cấp độ.
- Có sự khác biệt về nhu cầu chuyên môn cho đội ngũ hướng dẫn viên Aerobic giữa các đơn vị quản lý (Câu lạc bộ, Mầm non, Tiểu học, THCS...), cũng như có sự khác biệt về chương trình giảng dạy và phân cấp hướng dẫn viên.
- Có sự hài lòng của các hướng dẫn viên Aerobic sau khi tham gia chương trình học của từng cấp độ và sự hài lòng của các nhà quản lý có học viên tham gia chương trình đào tạo Hướng dẫn viên Aerobic.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Chuyên gia, cán bộ quản lý, giảng viên, huấn luyện viên, hướng dẫn viên và học viên tại các trường học, câu lạc bộ TDTT.
- Phạm vi không gian: Khảo sát và triển khai thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam (trong đó có tỉnh Đồng Nai).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai và hoàn thành bảo vệ vào năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu về lịch sử phát triển, đặc điểm môn Aerobic và cơ sở lý luận xây dựng chương trình đào tạo trên thế giới và tại Việt Nam:
Về lịch sử và chuyên môn Aerobic quốc tế: Thuật ngữ "Aerobic" được bác sĩ người Pháp Pasteur sử dụng lần đầu tiên vào năm 1875 với ý nghĩa "Oxy cần cho cuộc sống". Thập niên 1920-1930, Zenebvactebin và Becemencendir chịu ảnh hưởng của hệ thống thể dục Thụy Điển và Z. Đemenhi (Pháp) đã xây dựng phương pháp phát triển tư thế và vẻ đẹp phụ nữ. Fran - Dencap đặt cơ sở lý luận thể hiện tình cảm qua vận động. Thập niên 1960, Kenneth H. Cooper khởi xướng các bài tập nhóm. Năm 1970, Jacki Sorensen xuất bản cuốn sách "Chương trình tập luyện vũ điệu Aerobic". Phyllis C. Jacobson phát triển phương pháp "Hooked on Aerobic" tại Mỹ; Monica Beckman đưa các bước nhảy Jazz vào thể dục tại Châu Âu; Jane Fonda quảng bá Aerobic rộng rãi qua sách và băng hình. Năm 1985, cuộc thi Aerobic đầu tiên được tổ chức tại Mỹ. Năm 1994, Liên đoàn Thể dục Thế giới (FIG) chính thức công nhận Aerobic và tổ chức Giải Vô địch Sport Aerobic Thế giới lần I tại Pháp. Giai đoạn 2006-2007, FIG đổi tên môn này thành Aerobic Gymnastics.
Về phong trào Aerobic tại Việt Nam: Năm 1984, chuyên gia người Bungary giới thiệu loại hình thể dục mới tại TP. Hồ Chí Minh, sau đó các huấn luyện viên như Huỳnh Thị Lài, Trịnh Trang Thanh, Trần Việt Hoàng đã nghiên cứu và nhân rộng phong trào sang Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Vũng Tàu. Tháng 12/1994, đội tuyển Sport Aerobic Việt Nam do HLV Hứa Mỹ Ý hướng dẫn cùng các VĐV Đỗ Thị Thu Nhi, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Thùy An, Phạm Thị Hồng Trang dự giải Vô địch Thế giới tại Pháp với bài nhạc "Cái Trống Cơm" (có sự đóng góp tổ chức của ông Trần Thanh Ngữ). Tháng 7/1995, đội tuyển đạt hạng 10 tại Suzuki World Cup ở Nhật Bản (HLV Trần Việt Hoàng, VĐV Bùi Huỳnh Quốc Thắng, Vũ Điền An, Trương Huy Văn). Năm 1996, giải Sport Aerobic đầu tiên được tổ chức tại TP.HCM. Tháng 7/1997, Việt Nam xếp thứ 5 thế giới nội dung 3 người tại Perth (Úc). Tháng 7/2000, đội tuyển giành nhiều huy chương tại Giải Sport Aerobic Vô địch Đông Nam Á lần 1 tại Indonesia (Trịnh Hồng Thanh, Diệp Tuấn Cường, Nguyễn Tấn Thành, Phạm Thị Hồng Trang, Thái Anh Tuấn). Năm 2001, lớp trọng tài quốc tế đầu tiên tổ chức tại Hà Nội cấp chứng nhận cho các trọng tài: Nguyễn Kim Lan, Nguyễn Thanh Mai, Phan Thanh Liên, Phan Thanh Lan, Nguyễn Thị Cẩm Vân, Nguyễn Thị Thanh Thúy, Dương Xuân Trang, Bùi Thị Ngọc Bích, Nguyễn Anh Minh, Nguyễn Ngô Hồng Đào, Nguyễn Tri Khanh, Nguyễn Trung Kiên. Tại SEA Games 22 (2003) ở Việt Nam, đội tuyển đạt 3 HCV, 1 HCB (Trần Việt Hoàng, Nguyễn Thị Tuyết Mai và chuyên gia Tina). Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa Aerobic vào Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc các kỳ VI (2004), VII (2008), VIII (2012), IX (2016). Tuy nhiên, tại SEA Games 23 (2005) và SEA Games 25 (2007), thành tích giảm sút do thiếu hụt lực lượng kế thừa và hạn chế về phương pháp huấn luyện cập nhật.
Về lý luận chương trình đào tạo: Tác giả tổng hợp các quan điểm của Tyler (1949) với cấu trúc 4 phần (mục tiêu, nội dung, phương pháp/quy trình, đánh giá kết quả); Wentling trong công trình của Harvey (1993); PGS.TS Lê Đức Ngọc; GS.TS Trần Bá Hoành về mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp; mô hình đào tạo theo Module kỹ năng hành nghề (MES) và phương pháp tiếp cận CDIO của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT, Hoa Kỳ).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu và khóa tập huấn trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở việc truyền dạy bài tập đơn lẻ hoặc tổ chức bồi dưỡng ngắn hạn, thiếu một chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic chuẩn hóa theo năng lực, được phân cấp trình độ bài bản (4 cấp độ), tích hợp đầy đủ kiến thức lý luận, phương pháp sư phạm, cơ sở sinh học và được thiết kế theo quy trình CDIO.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Khái niệm môn Aerobic: Hệ thống các bài tập thể dục được chọn lọc, sáng tạo và phân định mức độ tập luyện phù hợp với âm nhạc, thực hiện trong chế độ nhất định nhằm phát triển sức chịu đựng của người tập. Luận án phân loại Aerobic theo các chức năng: phát triển sức khỏe (chia theo lứa tuổi: trẻ em, thanh thiếu niên, trung niên và cao tuổi); chữa bệnh và ứng dụng (tim mạch, hô hấp, thần kinh, cơ xương khớp); thi đấu phong trào và Hội khỏe Phù Đổng; thi đấu đỉnh cao Aerobic Gymnastics theo quy định của FIG (đơn nam, đơn nữ, đôi nam nữ, nhóm 3 người, nhóm 5 người, Aerobic Dance, Aerobic Step).
- Khung lý luận đào tạo và quản lý nguồn nhân lực: Vận dụng quy trình 4 bước của công tác đào tạo (Xác định nhu cầu đào tạo -> Lập kế hoạch đào tạo -> Thực hiện đào tạo -> Đánh giá chương trình đào tạo).
- Khung phân tích CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate): Ứng dụng CDIO để xây dựng chuẩn đầu ra (CĐR) cho chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic 4 cấp độ (Cấp độ 1: Sơ cấp - CDR_D; Cấp độ 2: Cơ bản - CDR_C; Cấp độ 3: Trung cấp - CDR_B; Cấp độ 4: Cấp cao - CDR_A).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu chuyên môn của FIG, tài liệu tập huấn của Liên đoàn Thể dục Việt Nam và các công trình khoa học giáo dục.
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi và tọa đàm chuyên gia để khảo sát thực trạng nhu cầu học tập/giảng dạy, lấy ý kiến chuyên gia và cơ quan tuyển dụng lao động về chuẩn đầu ra và nội dung chương trình đào tạo 4 cấp độ, đồng thời thu thập phản hồi của học viên và nhà quản lý sau khóa học.
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đánh giá trình độ tiếp thu lý thuyết và kỹ năng thực hành động tác, phương pháp biên soạn bài tập và kỹ năng hướng dẫn sư phạm của học viên qua các bài kiểm tra chuyên môn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Triển khai giảng dạy thực tế các khóa đào tạo hướng dẫn viên Aerobic theo 4 cấp độ tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh và tại tỉnh Đồng Nai.
- Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý dữ liệu khảo sát, bao gồm tính tần số, tỷ lệ phần trăm (%), kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, kiểm định KMO and Bartlett's Test và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ các phiếu khảo sát thực trạng tại các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, các CLB thể thao tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai; dữ liệu khảo sát ý kiến chuyên gia, cơ quan tuyển dụng; số liệu kết quả học tập và ý kiến phản hồi của học viên, nhà quản lý qua các khóa đào tạo thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 làm rõ lịch sử phát triển của Aerobic thế giới và Việt Nam; các đặc điểm chuyên môn, tác dụng sinh học đối với sức khỏe và các phân loại bài tập Aerobic. Chương này cũng phân tích sâu các cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực TDTT, bản chất của chương trình đào tạo (theo Tyler, Harvey, Lê Đức Ngọc, Trần Bá Hoành), mô hình đào tạo theo Module (MES), quy trình 4 bước của công tác đào tạo (nhu cầu, kế hoạch, thực hiện, đánh giá) và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra CDIO từ cấp độ 1 đến cấp độ 4. Tác giả tổng thuật tình hình nghiên cứu chương trình đào tạo trong và ngoài nước, khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa cho hướng dẫn viên Aerobic.
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch nghiên cứu, mô tả 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và quy trình tổ chức thực hiện. Tác giả thiết lập quy trình lập phiếu khảo sát gồm 34 biến thang đo sơ bộ, xác lập các bước kiểm tra tính nhất quán và cấu trúc thang đo, thiết kế mô hình chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic và tổ chức địa bàn nghiên cứu thực nghiệm tại Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh cùng cơ sở liên kết tại tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và phân tích dữ liệu qua 3 nhóm nội dung chính:
-
Đánh giá thực trạng nhu cầu học tập và công tác giảng dạy môn Aerobic: Khảo sát hệ thống 34 biến thang đo sơ bộ; kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, kiểm định KMO and Bartlett's Test và phân tích nhân tố EFA. Kết quả thống kê chỉ ra nhu cầu học tập Aerobic tại các trường học và CLB là rất cao, song lực lượng hướng dẫn viên hiện tại còn thiếu thốn về số lượng, hạn chế về trình độ chuyên môn, thâm niên và kỹ năng sư phạm. Luận án tổng hợp các tiêu chí năng lực của hướng dẫn viên gồm: tính cách, kỹ năng, phong cách và các yêu cầu chuyên môn.
-
Xây dựng và ứng dụng các chương trình đào tạo 4 cấp độ theo CDIO: Tác giả xây dựng chuẩn đầu ra cấp độ 4 theo phương pháp CDIO cho 4 cấp độ (Cấp độ 1, Cấp độ 2, Cấp độ 3, Cấp độ 4). Kiểm định Cronbach's Alpha cho thang đo CĐR của cả 4 cấp độ đều đạt yêu cầu thống kê. Khảo sát ý kiến chuyên gia và cơ quan tuyển dụng lao động cho thấy sự đồng thuận cao về cấu trúc CĐR và nội dung chương trình đào tạo. Chương trình sau đó được đưa vào giảng dạy thực nghiệm tại Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.
-
Đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo: Thu thập ý kiến phản hồi của học viên sau khi hoàn thành các cấp độ về 3 mặt: (1) Cấu trúc và kiến thức, (2) Khối lượng và kỹ năng rèn luyện, (3) Phương pháp kiểm tra và tổ chức thực hiện. Đồng thời, luận án khảo sát mức độ hài lòng của các nhà quản lý cơ sở có học viên tham gia học tập, chứng minh sự tiến bộ về năng lực chuyên môn và phương pháp hướng dẫn của đội ngũ sau đào tạo.
Bảng tổng hợp các dữ liệu và bảng biểu nghiên cứu chính trong luận án:
| Số hiệu bảng |
Tên nội dung bảng thống kê trong văn bản |
Đối tượng / Chỉ số thống kê phản ánh |
| Bảng 3.2 |
Ý kiến của chuyên gia về 34 biến thang đo sơ bộ |
34 biến đánh giá thực trạng nhu cầu và giảng dạy |
| Bảng 3.3 |
Hệ số tin cậy của Cronbach's Alpha về thực trạng |
Độ tin cậy thang đo thực trạng tại trường học TP.HCM |
| Bảng 3.4 |
KMO and Bartlett's Test |
Kiểm định tính thích hợp của phân tích nhân tố EFA |
| Bảng 3.5 |
Kết quả phân tích nhân tố về khảo sát nhu cầu tập Aerobic |
Các nhân tố tác động đến công tác giảng dạy của HDV |
| Bảng 3.7 - 3.10 |
Tính cách, kỹ năng, phong cách và yêu cầu của HDV |
Tiêu chí phẩm chất, năng lực của HDV trong giảng dạy |
| Bảng 3.11 |
Chuẩn đầu ra Cấp độ 4 theo phương pháp CDIO |
Khung CĐR 4 cấp độ cho chương trình đào tạo HDV |
| Bảng 3.12 - 3.15 |
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo CĐR 4 cấp |
Đánh giá độ tin cậy thang đo CĐR Cấp độ 1, 2, 3, 4 |
| Bảng 3.16 - 3.19 |
Kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia về CĐR 4 cấp độ |
Mức độ đồng thuận của chuyên gia về CĐR 4 cấp độ |
| Bảng 3.20 - 3.23 |
Khảo sát ý kiến cơ quan tuyển dụng lao động về CĐR 4 cấp |
Mức độ phù hợp của CĐR với nhu cầu sử dụng lao động |
| Bảng 3.24 - 3.27 |
Kết quả phỏng vấn lựa chọn nội dung chương trình 4 cấp |
Sự thống nhất về cấu trúc nội dung môn học từng cấp |
| Bảng 3.28 - 3.29 |
Thống kê số lượng học viên tham gia chương trình học |
Số lượng học viên tại ĐH TDTT TP.HCM và Đồng Nai |
| Bảng 3.30 - 3.41 |
Ý kiến học viên về cấu trúc, kiến thức, kỹ năng, kiểm tra |
Đánh giá phản hồi của học viên qua 4 cấp độ đào tạo |
| Bảng 3.42 |
Kết quả ý kiến phản hồi của nhà quản lý có học viên tham gia |
Mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động |
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Bổ sung cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực hướng dẫn viên thể thao trong bối cảnh giáo dục thể chất học đường và thể thao phong trào tại Việt Nam.
- Ứng dụng phương pháp tiếp cận CDIO vào việc thiết kế chuẩn đầu ra và cấu trúc chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic, xác lập rõ ràng hệ thống chuẩn đầu ra 4 cấp độ (Sơ cấp, Cơ bản, Trung cấp, Cấp cao) tương ứng với các nhóm năng lực kiến thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về thực trạng nhu cầu tập luyện, công tác giảng dạy và thực trạng đội ngũ hướng dẫn viên Aerobic tại các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT và các câu lạc bộ thể thao tại TP. Hồ Chí Minh cùng một số tỉnh phía Nam.
- Xây dựng hoàn chỉnh khung chương trình, nội dung giảng dạy và phương pháp kiểm tra đánh giá cho 4 cấp độ đào tạo hướng dẫn viên Aerobic tại Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh, khắc phục triệt để tình trạng đào tạo chắp vá, tự phát và thiếu tính sư phạm.
- Triển khai ứng dụng thực nghiệm thành công tại Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, nhận được phản hồi đánh giá cao từ người học và sự hài lòng từ các đơn vị quản lý cơ sở.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh cần đưa chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic 4 cấp độ vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên và cấp chứng chỉ theo quy định pháp lý.
- Tăng cường phối hợp giữa Trường Đại học TDTT TP.HCM với Liên đoàn Thể dục Việt Nam, Liên đoàn Thể dục TP.HCM, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh phía Nam nhằm chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên, giáo viên giảng dạy Aerobic trong trường học.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu chuyên môn và ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ tự học, tự rèn luyện cho học viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực trạng và tổ chức đào tạo thực nghiệm của đề tài chủ yếu tập trung tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, chưa mở rộng ra quy mô toàn bộ các tỉnh thành khu vực phía Nam và cả nước.
- Chương trình tập trung chủ yếu vào đối tượng hướng dẫn viên thể dục phong trào và trường học; chưa đi sâu xây dựng chương trình chuyên biệt dành cho đào tạo huấn luyện viên Aerobic Gymnastics đỉnh cao thi đấu quốc tế.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu, khảo sát và ứng dụng chương trình đào tạo tại các vùng miền khác nhau trên phạm vi cả nước.
- Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nâng cao dành cho huấn luyện viên và trọng tài Aerobic Gymnastics chuyên nghiệp cập nhật theo các chu kỳ luật thi đấu mới nhất của Liên đoàn Thể dục Thế giới (FIG).
Giá trị tham khảo
Giá trị đối với các nhóm đối tượng sử dụng:
- Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh và các trường đại học, cao đẳng TDTT: Sử dụng trực tiếp khung chương trình và chuẩn đầu ra CDIO 4 cấp độ để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng ngắn hạn, cấp chứng chỉ chuyên môn cho sinh viên và người lao động.
- Liên đoàn Thể dục Việt Nam, Hội Aerobic TP.HCM và các địa phương: Tham khảo nội dung chuyên môn, cấu trúc bài tập và tiêu chí kiểm tra để tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ trước các kỳ Hội khỏe Phù Đổng và giải thi đấu phong trào.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học, Quản lý TDTT, Huấn luyện thể thao: Tham khảo phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng, quy trình xử lý thống kê (Cronbach's Alpha, KMO, EFA) và quy trình ứng dụng CDIO trong phát triển chương trình đào tạo thể thao.
- Nhà quản lý trường học và trung tâm thể thao: Vận dụng các tiêu chí chuẩn đầu ra về tính cách, kỹ năng, phong cách để tuyển chọn, đánh giá chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên giảng dạy Aerobic cho học sinh.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Luận án phân chia chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic thành mấy cấp độ và dựa trên mô hình tiếp cận nào?
Trả lời: Luận án phân chia chương trình đào tạo thành 4 cấp độ: Cấp độ 1 (Sơ cấp - CDR_D), Cấp độ 2 (Cơ bản - CDR_C), Cấp độ 3 (Trung cấp - CDR_B) và Cấp độ 4 (Cấp cao - CDR_A). Toàn bộ chương trình được thiết kế dựa trên phương pháp tiếp cận CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate) nhằm xác định hệ thống chuẩn đầu ra gắn kết chặt chẽ với năng lực nghề nghiệp thực tế.
Câu hỏi 2: Thực trạng nguồn nhân lực giảng dạy Aerobic tại các trường Mầm non và Tiểu học ở TP. Hồ Chí Minh được luận án chỉ ra như thế nào?
Trả lời: Luận án chỉ ra thực trạng "vừa thừa vừa thiếu": sinh viên tốt nghiệp cử nhân TDTT hiếm khi về đứng lớp tại trường Mầm non và Tiểu học. Việc giảng dạy chủ yếu do giáo viên thuộc các công ty, câu lạc bộ tư nhân đảm nhiệm nhưng lực lượng này phần lớn chưa qua đào tạo bài bản, thiếu kiến thức lý luận và phương pháp sư phạm, tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng xấu hoặc chấn thương cho hệ vận động của học sinh.
Câu hỏi 3: Những kỹ thuật toán học thống kê nào được sử dụng để kiểm định thang đo trong luận án?
Trả lời: Tác giả sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để kiểm định độ tin cậy của 34 biến thang đo sơ bộ thực trạng và thang đo chuẩn đầu ra của 4 cấp độ; sử dụng kiểm định KMO and Bartlett's Test để đánh giá tính thích hợp của mẫu dữ liệu; và áp dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, giảng dạy.
Câu hỏi 4: Chương trình đào tạo 4 cấp độ đã được thực nghiệm tại những địa bàn nào và kết quả ra sao?
Trả lời: Chương trình được tổ chức đào tạo thực nghiệm tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai. Kết quả kiểm tra sư phạm và khảo sát ý kiến phản hồi cho thấy học viên đánh giá cao cấu trúc kiến thức, kỹ năng và phương pháp tổ chức; các nhà quản lý cơ sở cử học viên đi học cũng ghi nhận sự hài lòng cao về chất lượng chuyên môn sau đào tạo.
Câu hỏi 5: Lịch sử hình thành môn Aerobic thế giới và Việt Nam được luận án ghi nhận qua những mốc sự kiện tiêu biểu nào?
Trả lời: Bác sĩ Pasteur giải nghĩa từ "Aerobic" năm 1875, FIG công nhận môn thể thao này năm 1994 và đổi tên thành Aerobic Gymnastics năm 2006-2007. Tại Việt Nam, môn học du nhập năm 1984; tháng 12/1994 đội tuyển tham dự giải Vô địch Thế giới lần I tại Pháp với bài "Cái Trống Cơm"; năm 2001 tổ chức lớp trọng tài quốc tế đầu tiên tại Hà Nội; và tại SEA Games 22 (2003) tổ chức ở Việt Nam, đội tuyển Aerobic đã giành được 3 HCV và 1 HCB.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Trung Kiên đã giải quyết một khoảng trống thực tiễn cấp bách về việc chuẩn hóa chương trình đào tạo hướng dẫn viên Aerobic tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam. Đề tài đã vận dụng phương pháp tiếp cận CDIO để xây dựng thành công chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo 4 cấp độ (Sơ cấp, Cơ bản, Trung cấp, Cấp cao), được kiểm định bằng các công cụ toán học thống kê có độ tin cậy cao. Kết quả thực nghiệm tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai khẳng định tính khả thi, tính sư phạm và hiệu quả ứng dụng thực tế của chương trình, đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo nguồn nhân lực thể dục thể thao trường học và phong trào rèn luyện sức khỏe cộng đồng.