PHẦN MỞ ĐẦU Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành nền thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa. Mục đích của thể thao thành tích cao là vươn tới những đỉnh cao thành tích. Động cơ thành tích chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy vận động viên (VĐV) trong việc vươn tới các thành tích kỷ lục, cũng như thúc đẩy hoạt động khoa học thể thao nhằm tìm ra những phương pháp, biện pháp, yếu tố mới thúc đẩy, khai thác tối đa khả năng của con người trong việc vươn tới các thành tích đó. Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thể dục thể thao cũng đã đưa ra những quan điểm, giải pháp hữu hiệu để đổi mới công tác đào tạo tài năng thể thao, chú ý tập trung phát triển một số môn thể thao mũi nhọn để tham gia các đại hội thể dục thể thao quốc tế và khu vực, trong đó có một số môn võ thuật.
Ở nước ta, so với các môn thể thao khác, võ thuật đã được các thành phố và các địa phương quan tâm đầu tư có hệ thống như, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Phú Thọ. hơn thế nữa, võ thuật đã có những đóng góp không nhỏ về thành tích thi đấu tại các đấu trường quốc tế. Trong hệ thống đào tạo VĐV các môn thể thao nói chung cũng như, các môn võ thuật nói riêng, việc nâng cao thành tích thể thao phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tác động như lối sống, điều kiện, môi trường, công tác tuyển chọn, đào tạo. Ngoài việc hoàn thiện trình độ kỹ, chiến thuật, thể lực chung và rèn luyện ý chí, VĐV wushu trẻ cần phải được phát triển thể lực chuyên môn thông qua các bài thể lực chuyên môn tại các nội dung VĐV đó tập luyện và thi đấu.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 1 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 đã nêu rõ: "Đầu tư cho thể dục, thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Tăng tỉ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất TDTT và đào tạo VĐV thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao." [37] Để thực hiện các mục tiêu đó, ngành TDTT cũng đã xách định rõ những quan điểm giải pháp hữu hiệu để đổi mới công tác đào tạo tài năng thể thao, cụ 2 thể là: Chú ý tập trung phát triển một số môn thể thao mũi nhọn để tham gia các Đại hội thể thao quốc tế và khu vực, trong đó có môn Wushu. Wushu là một môn võ cổ truyền của người Trung Quốc. Wushu dịch sang tiếng Việt có nghĩa là võ thuật.
Wusshu rất quen thuộc với người Việt Nam, nó vừa mang tính chất văn hoá phương Đông vừa mang đặc điểm riêng của dân tộc, Wushu được chia làm hai nội dung, đó là Shan Shou (phiên âm theo tiếng Hán việt gọi là Đả lôi đài, hay Wushu taolu (biểu diễn), nội dung biểu diễn và đối luyện tay không với binh khí hoặc binh khí với binh khí. Taolu nội dung biểu diễn gồm các nội dung sau: Trường quyền, nam quyền, đao thuật, kiếm thuật, nam đao, thương thuật, thái cực quyền, thái cực kiếm, đối luyện tay không,đối luyện binh khí. Trong khi thi đấu các VĐV có thể được sử dụng các bài biểu diễn quy dịnh với các nhóm tổ hợp thuộc các bài biểu diễn như: Tay không quyền thuật, nhóm bài với đao thuật, nhóm bài với kiếm thuật, nhóm bài với thương thuật, nhóm bài vói côn thuật, trường quyền, nam quyền. Chính vì vậy đòi hỏi các VĐV phải có một tố chất thể lực toàn diện, đặc biệt là thể lực chuyên môn cho VĐV wushu trẻ là rất quan trọng của môn võ này.
Thể lực chuyên môn là tố chất thể lực nền tảng để phát triển kỹ thuật động tác đóng vai trò quan trọng trong tất cả các môn thể thao nói chung và nội dung Taolu - nội dung biểu diễn nói riêng. Thể lực chuyên môn liên quan trực tiếp đến mọi hoạt động và tầm ảnh hưởng rất lớn và quyết định trực tiếp đến thành tích thi đấu của các VĐV. Môn Wushu du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Tới năm 1991 Wushu Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư, Tổng cục TDTT Việt Nam đã chính thức mời những huấn luyện viên (HLV) giỏi của Nam Ninh - Trung Quốc sang huấn luyện Đội tuyển Việt Nam (Phan Hán Quang, Trần Húc Hồng).
Từ thời điểm này, Wushu của Việt Nam đã có những bước tiến bộ rõ rệt và đã đạt được những thành cao trong các giải thi đấu quốc tế cụ thể như VĐV Nguyễn Thúy Hiền, Mai Thanh Ba. và ngay tại giải Vô địch Wushu thế giới lần thứ 3 được tổ chức tại Malaisia VĐV Nguyễn Thúy Hiền, Mai Thanh Ba đã đem về cho thể thao Việt Nam những chiếc Huy chương Vàng Thế giới đầu tiên. 3 Chính vì những thành tích này, môn WuShu đã được xác định là môn thể thao trọng điểm loại 1 được đầu tư trong chiến lược phát triển của Ngành TDTT Việt Nam (Các môn thể thao trọng điểm bao gồm: 10 môn thể thao trọng điểm loại 1 (điền kinh, bơi, cử tạ, Wushu, vật (hạng cân nhẹ), bắn súng, Karatedo, boxing (nữ), cầu lông, bóng bàn; 22 môn thể thao trọng điểm loại 2 (bóng đá, bóng chuyền, Judo, Wushu, cầu mây, đấu kiếm, thể dục dụng cụ, Pencak Silat, bắn cung, xe đạp, cờ vua và cờ tướng, bi sắt, lặn, bóng ném, Dance Sport, Sport Aerobic, quần vợt, thể hình, Canoe-Kayak, Rowing, Billiard-Snooker và Vovinam). [52] Tuy nhiên trong quãng thời gian qua, công tác huấn luyện TLCM cho nam VĐV Wushu Taolu chưa thực sự hiệu quả.
Các VĐV thể hiện sự giảm sút rõ dàng về sức nhanh, sức mạnh, khả năng phối hợp vận động. khi thực hiện nửa sau các bài quyền, đặc biệt là phần cuối bài. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, vấn đề chính là do thể lực chuyên môn của VĐV chưa thực sự bảo đảm và chưa đáp ứng nhu cầu tập luyện, thi đấu. Chính vì vậy việc nghiên cứu thể lực chuyên môn (TLCM) cho nam VĐV Wushu - Taolu lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam là công việc rất quan trọng đối với công tác chuyên môn.
Thực tế quan sát các giải thi đấu của VĐV trẻ Việt Nam và tại các tỉnh, thành miền Bắc Việt Nam cho thấy, việc phát triển TLCM cho VĐV đạt hiệu quả chưa cao. VĐV chưa đảm bảo trình độ TLCM để thực hiện tốt các kỹ thuật cũng như hoàn thành chiến thuật cho VĐV đề ra. Đây là một hạn chế trong công tác huấn luyện VĐV Wushu - Taolu trẻ tại Việt Nam hiện nay. Đã có một số công trình nghiên cứu về võ thuật của các tác giả như: Nguyễn Đương Bắc (2006) [3], Trần Tuấn Hiếu (1999), (2004) [24], [25], Nguyễn Thi Ngọc (2007) [43], Đặng Thị Hồng Nhung (2011) [42], Mai Thị Bích Ngọc (2017) [44], Vũ Xuân Thành (2012) [55], Trần Kim Tuyến (2009) [68],.
Các đề tài trên đã nghiên cứu phát triển các tố chất thể lực riêng lẻ qua tập luyện võ thuật, xây dựng chương trình tập luyện cho các đối tượng khác nhau hay đánh giá trình độ tập luyện của VĐV, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu 4 lựa chọn bài tập phát triển TLCM cho nam VĐV Wushu - Taolu lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Xuất phát từ tầm quan trọng tính bức thiết của vấn đề lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam vận động viên wushu trẻ một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam vận động viên Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam”. * Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác huấn luyện TLCM cho nam VĐV Wushu - Taolu tại một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam, luận án tiến hành lựa chọn các bài tập phát triển TLCM phù hợp, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện cho nam VĐV Wushu - Taolu lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ 1: Thực trạng công tác huấn luyện thể lực chuyên môn cho Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho Wushu - Taolu lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Nhiệm vụ 3: Nghiên cứu ứng dụng các bài tập lựa chọn trong phát triển thể lực chuyên môn cho Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu: Là bài tập phát triển TLCM cho nam VĐV Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam.
Khách thể nghiên cứu: Số lượng VĐV thuộc đối tượng khảo sát: 59 VĐV, trong đó có 16 VĐV lứa tuổi 12, 16 VĐV lứa tuổi 13, 13 VĐV lứa tuổi 14 và 14 VĐV lứa tuổi 15. Đối tượng phỏng vấn trực tiếp: 11 HLV huấn luyện VĐV Wushu – Taolu tại 06 đơn vị trong diện khảo sát của luận án. 5 Đối tượng phỏng vấn xác định các tố chất TLCM đặc thù cho nam VĐV Wushu – Taolu lứa tuổi 12-15 là 33 chuyên gia, HLV, trọng tài môn Wushu- Taolu Đối tượng phỏng vấn lựa chọn test đánh giá TLCM cho nam VĐV Wushu- Taolu lứa tuổi 12-15 là 32 chuyên gia, HLV Wushu-Taolu lâu năm, trọng tài Wushu – Taolu. Đối tượng phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển TLCM cho nam VĐV Wushu-Taolu lứa tuổi 12-15 tại một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam gồm 31 chuyên gia, HLV Wushu – Taolu có thời gian công tác trên 5 năm, các trọng tài Wushu – Taolu.
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Thực trạng TLCM của nam VĐV Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển TLCM cho nam VĐV Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam. Các bài tập phát triển TLCM cho cho nam VĐV Wushu - Taolu Lứa tuổi 12-15 một số tỉnh thành phía Bắc Việt Nam.