phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh ở trƣờng tiểu học. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu ở ngước ngoài Trong vài thập kỷ lại đây, công tác GDTC trƣờng học đã trở thành quốc sách của nhiều nƣớc, đặc biệt là một số nƣớc phát triển và đang phát triển nhƣ Mỹ, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Juel Jarani và cộng sự, 2018, nghiên cứu về giáo dục thể chất bậc tiểu học, Trƣờng Đại học thể dục thể thao Albanian. Mục đích của nghiên cứu này là tìm ra cách tiếp cận hiệu quả nhất để cải thiện các thành phần thể chất ở trẻ em.
Ở Mỹ, trong những năm gần đây, trong công tác quản lý hoạt động GDTC đã coi trọng đổi mới chƣơng trình đào tạo, coi trọng và tăng cƣờng các môn học tự chọn, đồng thời chú trọng cải tiến phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy tính tự giác tích cực của ngƣời học và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và GDTC nói riêng. Ở Liên Xô cũ cũng chú trọng công tác quản lý TDTT trƣờng học và thể thao thành tích cao. Tác giả Novicop Mát vê ép đã có các công trình nghiên cứu về quản lý TDTT trong GDTC cũng đã hình thành hệ thống nguyên lý phƣơng pháp và phƣơng thức quản lý TDTT trƣờng học. Tác giả Philin cũng đã nghiên cứu đƣa ra hệ thống phƣơng pháp quản lý huấn luyện vận động viên thể thao trẻ.
Ở Nhật Bản, các nhà khoa học lại chú trọng xây dựng hệ thống hợp tác không gian (Space Collaboration System) trong dạy học nói chung và dạy học TDTT nói riêng. Ở Hàn Quốc, các nhà khoa học chú trọng xây dựng các trung tâm công 7 nghệ đa phƣơng tiện (Multimedia) trong dạy học. Trung Quốc là nƣớc đang phát triển và là một cƣờng quốc về TDTT, bởi vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung và tổ chức quản lý hoạt động GDTC trƣờng học nói riêng hết sức đƣợc coi trọng. Chỉ tính từ năm 1996 đến 2004, trong 8 năm đã có hàng chục công trình nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT và quản lý hoạt động GDTC trƣờng học, nổi bật nhất là các công trình của Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý luận và xây dựng nên các nội dung phƣơng pháp, phƣơng thức quản lý giáo dục của Trung Quốc.
Các giáo sƣ bộ môn Quản lý học của học viện TDTT Bắc Kinh (1988), Chu Nghiêm Kiệt (1988), Trƣơng Lê Chính (1990) đã xây dựng các giáo trình về quản lý TDTT trƣờng học giúp các giảng viên, cán bộ quản lý GDTC có đƣợc các kiến thức cơ bản trong quản lý TDTT trƣờng học. Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài ta có thể dễ dàng nhận thấy các tác giả đã quan tâm đi sâu nghiên cứu để xây dựng hệ thống lý luận quản lý đồng thời đƣa ra các biện pháp để đi sâu vào quản lý các lĩnh vực khác nhau của công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung, GDTC nói riêng.2 Các nghiên cứu trong nước Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nƣớc nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi một ngƣời dân yếu ớt, tức là làm cho cả nƣớc yếu ớt một phần; mỗi một ngƣời dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nƣớc mạnh khỏe. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nƣớc mạnh khỏe”[20].
Thấm nhuần lời dạy của Ngƣời, toàn dân tộc Việt Nam, trong đó có lực lƣợng học sinh, sinh viên đang ra sức thi đua học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục và phát triển giáo dục trong Nhà trƣờng có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dƣỡng nhân tố con ngƣời. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực 8 giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và phát huy tinh thần dân tộc của con ngƣời Việt Nam, tăng cƣờng và giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nƣớc. NQTW 2, khoá XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc và của toàn dân.
Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển, đƣợc ƣu tiên đi trƣớc trong các chƣơng trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [1]. Giáo dục là một chức năng của xã hội loài ngƣời đƣợc thực hiện một cách tự giác, mà ở bất cứ thời đại nào, quốc gia nào cũng dành đƣợc nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Từ hơn hai nghìn năm trƣớc đây, trên thế giới đã có nhiều nhà chính trị, nhà tƣ tƣởng nghiên cứu về giáo dục, đặc biệt là quản lý giáo dục và đƣa ra nhiều những ý kiến, luận điểm khoa học đƣợc áp dụng vào thực tế và có những thành công lớn về quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng là những vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc hết sức quan tâm.
Việc chú trọng tới các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong nhà trƣờng luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà quản lý nƣớc ngoài đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của quản lý và quản lý giáo dục nhƣ: Về phạm trù GDTC trong nhà trƣờng, trong cuốn Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, y tế trƣờng học (Bộ GD&ĐT, NXB TDTT năm 2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC và y tế trƣờng học. Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của: - Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài “Định hƣớng chiến lƣợc tăng cƣờng GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ học sinh trong nhà trƣờng phổ thông các cấp đến năm 2010”. Trong đề tài này, các tác giả đã đƣa ra mục tiêu định hƣớng lâu dài, mục tiêu trƣớc mắt 2003 - 2010 và đồng thời đƣa ra các giải pháp chiến lƣợc nhằm thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
[9] 9 - Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trƣờng học”. Các tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phƣơng cả nƣớc do đó nó thể hiện đƣợc bức tranh tổng thể công tác GDTC. Nhƣng hạn chế của nó là chƣa thể hiện đƣợc sự khác biệt giữa các vùng miền, địa phƣơng và các giải pháp tƣơng ứng.
Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng GDTC, nghiên cứu lý luận về GDTC, đƣa ra các tiêu chí đánh giá GDTC, xây dựng một số biện pháp tác động, đánh giá kết quả các biện pháp. Đây là những công trình nghiên cứu có chiều sâu về lý luận và phần thực trạng, đƣa ra các biện pháp, thực nghiệm công phu. Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực GDTC song chủ yếu mang tính tổng quát trên phạm vi rộng hoặc các biện pháp áp dụng cho việc vận dụng phƣơng pháp, sử dụng các bài tập cụ thể. Việc nghiên cứu để đề xuất các hoạt động quản lý hoạt động GDTC cho cấp học TH nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động GDTC cho HS tiểu học học sinh là chƣa đƣợc đề cập nhiều.
Các thành quả nghiên cứu là những tri thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý GDTC cho HS tiểu học.[8] - Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh tại các trƣờng THCS huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phƣớc, Nguyễn Trọng Hiếu, Tạp chí khoa học và quản lý giáo dục, 2019. Nội dung của bài viết cho rằng hoạt động giáo dục thể chất là một hoạt động hết sức quan trọng, góp phần giáo dục và rèn luyện con ngƣời phát triển toàn diện. Giáo dục thể chất với bản chất là vận động, là một phƣơng tiện hữu ích, hợp lí giữa chế độ học tập căng thẳng và nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Hoạt động giáo dục thể chất còn có tác dụng quan trọng trong quá trình rèn luyện đạo đức, ý chí và thẩm mỹ cho học sinh [19] 10 - Giáo dục thể chất trong trƣờng học tiểu học một số nƣớc – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, TS Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí quản lý giáo dục, 2020.
Đề tài đã cho rằng Giáo dục thể chất trong trƣờng phổ thông là một hoạt động giáo dục hết sức quan trọng, góp phần giáo dục và rèn luyện con ngƣời phát triển toàn diện. Sử dụng phƣơng pháp phân tích tài liệu, bài viết trình bày giáo dục thể chất ở một số nƣớc trên thế giới. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục thể chất trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay [25] - Đề án Tổng thể phát triển GDTC và thể thao trƣờng học giai đoạn 2016 - 2020, định hƣớng đến năm 2025. Mục tiêu của đề án là nâng cao chất lƣợng, hiệu quả GDTC và thể thao trong trƣờng học, nhằm tăng cƣờng sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện, trang bị kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản và hình thành thói quen tập luyện thể dục, thể thao thƣờng xuyên của trẻ em, học sinh, sinh viên, góp phần nâng cao tầm vóc ngƣời Việt Nam [14] - Hội thảo “Nâng cao chất lƣợng, phát huy có hiệu quả giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao trong trƣờng học”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015.