CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về công tác hướng nghiệp 1. Các nghiên cứu trên thế giới Khoa học - kỹ thuật không ngừng thay đổi và phát triển ngày càng hiện đại hơn, đặc biệt là trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, người lao động thường không có đủ khả năng để thích ứng kịp thời. Hơn nữa, rất nhiều HS phổ thông sau khi tốt nghiệp với những kiến thức mang đậm tính lý thuyết, không đủ khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động, XH đầy phức tạp.
Từ thực tế này, các nhà giáo dục học ở một số nước trên thế giới đã nghiên cứu và đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với thực tế cuộc sống. Tại các quốc gia phát triển, giáo dục nghề nghiệp được xem là định hướng của XH nhằm nâng cao năng suất lao động, giúp giới trẻ sớm ổn định cuộc sống, các cấp quản lí giáo dục luôn chú trọng đào tạo nghề cho HS từ rất sớm cho, xây dựng nền tảng vững chắc cho HS - những công dân trẻ - thành công trong chính niềm đam mê của mình, cống hiến cho XH. Trên thế giới, hướng nghiệp học đường và nghề nghiệp đã có lịch sử ra đời và phát triển trên dưới 100 năm. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp đã được triển khai trên đất nước Xô viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công nhân của đất nước.
Công tác hướng nghiệp được tiến hành nhờ các tổ chức giáo dục, uỷ ban bảo vệ sức khoẻ và các tổ chức quần chúng. Năm 1927 ở Lêningrat đã tổ chức HN với mục đích giúp cho tuổi trẻ và cha mẹ các em quen biết với nghề nghiệp. Đối tượng của CTHN bao gồm một phạm vi rộng về lứa tuổi, nhưng chú ý chủ yếu là đối với thế hệ trẻ; lực lượng tiến hành CTHN bao gồm nhiều bộ phận và những mối quan hệ khác nhau trong XH. Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.
Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề. Vào đầu thế kỷ XX Ở Mỹ, Anh, Pháp, Thuỵ Điển đã xuất hiện 7 Luan van các cơ sở dịch vụ HN. Bản thân thuật ngữ “Hướng nghiệp” là do giáo sư F. Parson thuộc đại học tổng hợp Garvared (Mỹ) vào năm 1908 đã tổ chức ở Boston lần đầu tiên ở Mỹ hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động đề xướng.
Năm 1909, cuốn sách “Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) được xuất bản, F. Parsons cho rằng, HN phải dựa trên năng lực, hứng thú và nhu cầu của bản thân. L Holland (nhà tâm lý học Mỹ) đã đưa ra mô hình lý thuyết nghề nghiệp, bài trắc nghiệm này đã được sử dụng khá rộng rãi trong HN phổ thông tại các quốc gia phát triển nhất về giáo dục như Hà Lan, New Zealand, Thuỵ Sỹ, Italy…và được đánh giá rất cao về tính chính xác trong việc khám phá, lựa chọn ngành, nghề phù hợp tính cách của bản thân. Tại Việt Nam, bài trắc nghiệm này còn khá mới nhưng cũng đang được áp dụng rộng rãi trong CTHN.
Reardon and Janet G. Ở Mỹ, nhằm giúp HS xác định đúng nghề, mỗi trường trung học có đội ngũ giáo viên cố vấn (3-5 người) chuyên phụ trách CTHN cho học sinh, các thầy cô là những người trực tiếp giúp học sinh hiểu rõ năng lực, sở thích của bản thân trong quá trình tìm hiểu nghề nghiệp cũng như nộp hồ sơ vào các trường ĐH. và song hành cùng HS ngay từ đầu năm lớp 11 cho đến cuối năm lớp 12, ngoài ra nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm với những nhân vật nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, liên hệ với các trường ĐH, công ty, tổ chức. để tạo cơ hội cho HS tham gia như một thành viên chính thức, giúp HS tự tin và xác định được hướng đi trong tương lai.
Tại Úc, việc định hướng nghề nghiệp tương lai cho giới trẻ được đưa vào từ những năm học đầu tiên của cấp hai trong chương trình giáo dục học đường tại bang Victoria (VIC). Học sinh phổ thông từ lớp 10 trở lên có thể học song song chương trình phổ thông ngay trong trường và chương trình đào tạo nghề, khi học hết phổ thông, học sinh có thể đi làm, học nghề ở các bậc chứng chỉ, CĐ hoặc ĐH. Chương trình giáo dục cho cấp học phổ thông tại bang VIC không chỉ đơn thuần là dạy kiến thức mà đi kèm là một chương trình giáo dục nghề nghiệp mang tính khoa học cao, gắn liền giữa lý thuyết và thực tiễn, giúp HS có thể lập nghiệp ngay trong thời gian còn đi học, tham gia hiệu quả vào đời sống XH. Mục tiêu cuối cùng của chương trình là nhằm đào tạo ra những lao động có 8 Luan van chất lượng cao về nhận thức, kỹ năng và chuyên môn đáp ứng cho thị trường lao động hiện đại.
Ở Pháp, cuốn sách ‘‘Hướng nghiệp chọn nghề’’ xuất hiện năm 1848, nội dung đề cập tới vấn đề nghề nghiệp phát triển đa dạng do công nghiệp phát triển, từ đó thấy được tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên lựa chọn nghề hợp lý nhất nhằm sử dụng hiệu quả lực lượng lao động trẻ tuổi. Sắc luật năm năm về lao động, việc làm và dạy nghề (ngày 20/12/1993) cho phép các trường trung học, phổ thông chuyên ban mở các bộ môn dạy nghề hay các đơn vị đào tạo nghề kết hợp chặt chẽ với giới kinh tế địa phương. Ở Đức, tại các trường học, HS được phân loại ngay từ cấp tiểu học: loại chỉ học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết lớp 12. Tới lớp 10 ngay học kì 1, GVCN liên hệ nhiều cơ sở HN, những lớp dạy nghề để HS đến đó tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học, được trợ cấp: ăn, ở và mức lương tối thiểu theo mức sống ở Đức.
Thông qua kế hoạch này mà HS được tiếp cận với môi trường lao động thực tế, được lĩnh hội một số kỹ năng lao động cần thiết, từ đó giúp HS hòa nhập và trưởng thành tốt trong cuộc sống XH. Ở Nhật, mối quan tâm lớn của các nhà xây dựng chính sách giáo dục là tìm cách đẩy mạnh HN, đào tạo dạy nghề cho HS sau THCS và THPT nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa kiến thức văn hóa phổ thông với kiến thức về kỹ năng nghề nghiệp ở tất cả các bậc học, có khoảng 27,9% số trường THPT vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,…Tác giả Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu GD Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho HS phổ thông. Trong nghiên cứu này, HS trung học phải được “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong XH, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân”. Tại Hàn Quốc, năm 1967, đạo luật đào tạo nghề ra đời đã khuyến khích các tổ chức, doanh 9 Luan van nghiệp tham gia đào tạo nghề nhằm tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng mà các doanh nghiệp có nhu cầu.
Các trường và các trung tâm dạy nghề phát triển nhanh vào mở rộng trong những năm 1970. Đồng thời, Hàn Quốc tăng cường hợp tác với các nước: Mỹ, Đức, Nhật, Bỉ. đào tạo giáo viên hướng dẫn nhằm tạo “khung” hệ thống đào tạo nghề. Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005.
Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện hiệu quả. Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức. Như vậy, theo tìm hiểu của người nghiên cứu, các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho HS ngay ở bậc trung học, có sự phân luồng HS rất rõ nét, ngay từ cấp tiểu học (Đức), các trường học và doanh nghiệp có sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động GDHN cho HS. Đội ngũ GV làm CTHN được đào tạo bài bản và có chuyên môn cao.
Chương trình HN của họ thực sự chất lượng hướng vào người học và có sự đầu tư mạnh mẽ từ nhà nước, có thể thấy rằng GDHN giữ một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nước khác nhau trên thế giới. Công tác hướng nghiệp góp phần vào sự tự tin xác định nghề nghiệp của HS khi còn ngồi trên ghế nhà trường, giúp các em chọn được nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích, gắn học tập với thực tiễn cuộc sống, giải quyết hài hòa bài toán nguồn nhân lực của quốc gia. Các nghiên cứu trong nước Những năm 80 của thế kỉ XX, CTHN cho học sinh THPT ở Việt Nam đã được các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục quan tâm nghiên cứu như: Trần Xuân Nhĩ (1982) về nắm vững những quan điểm đúng đắn, ra sức đẩy mạnh công tác hướng nghiệp; Nguyễn Thị Bình (1982) về trách nhiệm của ngành giáo dục đối với công tác hướng nghiệp và sử dụng HS ra trường; Võ Nguyên Giáp (1984) về công tác hướng nghiệp trong các nhà trường 10 Luan van phổ thông; Phạm Huy Thụ (1996) về hoạt động lao động hướng nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam; Đặng Danh Ánh (2010) về giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam. Các công trình này chỉ rõ tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với HS trung học trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.