Chương 1. Lược sử về lĩnh vực nghiên cứu 1. Công tác hướng nghiệp một số nước trên thế giới 1. Singapore Học sinh, sinh viên hoàn toàn chủ động trong việc định hướng con đường học tập và tương lai nghề nghiệp của mình dựa trên khả năng của bản thân.
Hàng năm, Chính phủ Singapore dành 20% tổng ngân sách quốc gia cho việc đầu tư vào giáo dục - chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất trong tất cả các ngành. Việc phân luồng đào tạo ở Singapore được thực hiện ngay sau bước thi PSLE, với 5 luồng giáo dục sau tiểu học: các trường trung học Nhà nước; các trường chuyên biệt cho các học sinh có định hướng học nghề sau khi tốt nghiệp; các trường năng khiếu độc lập cho các HS có năng khiếu trong một số lĩnh vực cụ thể; các trường tư thục; các trường giáo dục đặc biệt dành cho những HS có hoàn cảnh đặc biệt. Hệ thống giáo dục Singapore có tính hướng nghiệp rất cao, bắt đầu phân cấp các môn học và hướng nghiệp ngay từ đầu cấp THCS, số môn học chỉ còn 7 – 8 môn và HS có quyền chọn một số môn. Chương trình dạy học được thiết kế phù hợp, tăng thời lượng các môn theo định hướng nghề nghiệp, tạo điều kiện để HS lựa chọn môn học phù hợp với tố chất, điều kiện, mục tiêu công việc tương lai.
Cộng hòa Pháp Để phát triển nhân cách toàn diện cho HS, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác. Đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở cho việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động. Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực tiễn và hướng nghiệp để giúp cho HS trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Sau THCS, đến cấp THPT là quá trình dần định hướng HS đi vào trung học chuyên ban gồm ba phương thức đào tạo: phổ thông học trong ba năm thì được văn bằng tú tài phổ thông; công nghệ học trong ba năm thì được cấp bằng tú tài công 1 Luan van nghệ và học trong hai năm cấp bằng kỹ thuật viên; chuyên nghiệp thì được cấp các văn bằng, chứng chỉ khả năng nghiệp vụ hoặc chứng chỉ học chuyên nghiệp và bằng tú tài chuyên nghiệp.
Cộng hòa liên bang Đức Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông của nước Đức quán triệt nguyên tắc hướng nghiệp để HS đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ học tập của mỗi em. Học sinh được phân loại ngay từ cấp tiểu học. Sau lớp năm, căn cứ vào thành tích học tập của từng em trường phân HS thành hai loại: loại chỉ học hết lớp mười rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết trung học lớp mười hai. Đến đây lại phân loại nữa, chỉ cho những học sinh khá được lên lớp mười ba thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào các trường đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề trung cấp.
Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học nhưng sẽ phúc tra và và đưa ra quyết định chính xác sau khi học hết lớp chín. Tới lớp mười, ngay từ học kì một, GVCN liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạy nghề của những công ty tư nhân và nhà nước để bố trí học sinh đến đó tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học, chế độ được hưởng khi học như trợ cấp bao gồm tiền ăn, ở và đảm bảo mức lương tối thiểu theo mức sống ở Đức. Những HS có nhu cầu hay năng lực học lên đại học buộc phải có học lực khá và từ lớp 11 được học trường phổ thông hệ học lên ĐH. Hoa Kỳ Ở Hoa Kỳ, trung bình mỗi trường trung học có khoảng từ 3 đến 5 thầy cô chuyên trách công tác hướng nghiệp cho HS.
Con số này tùy thuộc vào từng bang, chất lượng đào tạo và số lượng HS của mỗi trường. Thầy cô làm công tác tư vấn hướng nghiệp (được gọi là counselor) là những người trực tiếp giúp HS trong quá trình tìm hiểu cũng như nộp hồ sơ vào các trường ĐH. Công tác hướng nghiệp cho HS tại Hoa Kỳ được diễn ra (rải) từ đầu năm lớp 11 đến cuối năm lớp 12. Ngoài ra, nhà trường cũng thường xuyên liên hệ với các nguồn khác (từ trường đại học, các công ty, tổ chức.) để thông báo và tạo cơ hội cho học sinh đến tham quan trong các sự kiện đơn vị đó tổ chức với tư cách như một thành viên chính thức.
Phần Lan Giáo dục phổ thông của Phần Lan gồm chín năm học bắt buộc ở hệ thống trường học toàn diện và ba năm học không bắt buộc ở trường THPT hoặc trường nghề. Sau khi hoàn thành giáo dục căn bản, HS được quyền lựa chọn giữa trường THPT và trường nghề. Các trường THPT chuẩn bị cho HS vào ĐH, cho nên tất cả các môn học đều hướng đến nghiên cứu tổng quát. Cuối bậc học này, HS tham gia một kì thi tốt nghiệp toàn quốc.
Các trường nghề chủ yếu phát triển năng lực nghề và HS các trường nghề phải hoàn thành kì thi tốt nghiệp nghề để vào đại học kỹ thuật (polytechnic). Những kinh nghiệm từ việc nghiên cứu công tác hướng nghiệp các nước trên thế giới Hệ thống GDTrH ở các nước hướng cho HS đi vào lĩnh vực nghề nghiệp một cách nhẹ nhàng, chất lượng nhưng hết sức phù hợp khả năng của từng em. Công tác hướng nghiệp góp phần vào sự tự tin xác định nghề nghiệp của HS khi còn ngồi trên ghế nhà trường, giải quyết hài hòa bài toán nguồn nhân lực của quốc gia họ. Đây cũng chính là những điểm mà hệ thống giáo dục nước ta còn thiếu hay nói cách khác là hoạt động giáo dục hướng nghiệp nước ta không vững chắc, không góp phần hướng cho HS đủ tự tin, đủ năng lực để lựa chọn nghề.
Ở các nước, GDHN được tích hợp trong nhiều môi trường giáo dục, chuyên nghiệp và xã hội như: trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học, chuyên nghiệp & dạy nghề, trong các Trung tâm thông tin việc làm, các Trung tâm giáo dưỡng trẻ vị thành niên. Thông tin hướng nghiệp ở các nước phát triển ở một phạm vi rộng lớn, đó là thông tin về các ngành nghề, các nghề nghiệp gồm cả những nghề nghiệp mới xuất hiện, thông tin thị trường lao động (nhu cầu tuyển dụng trên thị trường, mức lương, phân bố lao động ở các vùng miền). Các nước có sự phân luồng nghề nghiệp rất rõ nét như ở Hoa kỳ, Pháp, Phần Lan đặc biệt là ở Đức và Singapore. Ở các nước như Phần Lan, Singapore sau khi học xong chương trình giáo dục cơ bản HS phải trải qua từ 1- 2 năm học dự bị hướng nghiệp, chương trình hướng nghiệp hoặc sau phổ thông nhằm mục đích phân luồng hướng nghiệp.
Giữa trường học và doanh nghiệp có sự liên kết chặt chẽ như ở Hoa Kỳ, Đức trong 3 Luan van hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS. Lực lượng GV làm công tác hướng nghiệp được đào tạo chuyên nghiệp và có chuyên môn cao. Đa phần ở các nước có sự phân hóa nghề nghiệp thật rõ ràng ở các cấp học, chương trình GDHN của họ thật sự chất lượng hướng vào người học và có sự đầu tư mạnh mẽ từ Nhà nước. Để triển khai các mô hình hướng nghiệp tích hợp trong hệ thống giáo dục quốc dân, chính phủ các nước đã có các chính sách đồng bộ để duy trì, củng cố các chức năng của giáo dục hướng nghiệp.
Chính sách về tài chính: từ nhiều nguồn và nhiều cách thức khác nhau được cung cấp bởi các khoản kinh phí để có thể hoạt động như những dịch vụ công cộng; Chính sách về pháp lý: Chính phủ và ngành giáo dục các nước có các quy định chặt chẽ bắt buộc các cơ sở giáo dục và đào tạo phải xây dựng hoặc triển khai các hoạt động GDHN; Chính sách về đào tạo chuyên gia giáo dục hướng nghiệp: tùy theo mô hình và đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia mà đào tạo chuyên gia theo các hệ thống khác nhau. Ngoài ra, còn các chính sách khác như: về cổng thông tin hướng nghiệp, về công nghệ, về cơ sở vật chất thiết bị… 1. Các nghiên cứu trong nước đã công bố 1. Một số đề tài nghiên cứu trong nước Vấn đề hướng nghiệp, chọn nghề của HS bậc THPT không phải là vấn đề mới.
Đây là một vấn đề được tất cả các cấp, ban ngành trong xã hội, từ trung ương đến địa phương, từ các nhà quản lý giáo dục đến PHHS và HS thực sự quan tâm. Vì thế, đây là một vấn đề thật sự cấp thiết, mà các nhà khoa học giáo dục trong thời gian qua thật sự quan tâm, có nhiều đề tài nghiên cứu, tài liệu, báo cáo khoa học bàn về hoạt động hướng nghiệp, như: Đề tài: “Thực trạng và giải pháp công tác tư vấn nghề tại các Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Tác giả Nguyễn Toàn thuộc Trung tâm Kỹ thuật và Hướng nghiệp Thủ Đức thực hiện năm 1995 tại thành Tp HCM. Đề tài khảo sát thực trạng chọn nghề của HS hiện nay, với kết quả từ thực trạng nghiên cứu cho biết đa số các em hiện nay chọn nghề dựa vào cảm tính và nêu ra một số sai lầm của HS khi chọn nghề mắc phải. Theo kết quả khảo sát, ngành giáo dục cần phải định hướng các em thông qua công tác tư vấn 4 Luan van hướng nghiệp, dựa vào cơ sở khoa học của việc xác định các yêu cầu nghề nghiệp và các trắc nghiệm tư vấn hướng nghiệp.
Cuối cùng tác giả đưa ra những biện pháp mang tính thực tiễn nhằm giải quyết tốt việc hướng nghiệp chọn nghề cho HS hiện nay ở Tp HCM. Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm hướng nghiệp và chọn nghề” của tác giả Quang Dương (chủ nhiệm đề tài), Viện Nghiên cứu Giáo dục và Đào tạo phía Nam, Tp HCM năm 1998. Đề tài đã đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Tp HCM ở vào thời điểm cuối những năm 1990 của thế kỷ XX mất cân đối rất nghiêm trọng về trình độ kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ giữa bậc ĐH, CĐ với công nhân kỹ thuật.