Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 Luan van CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các lý thuyết có liên quan đến động lực học tập 2.1 Động cơ và động lực Sự tương đồng và khác biệt giữa động cơ và động lực Trong giao tiếp, chúng ta thường sử dụng “động cơ” để chỉ một điều gì đó mang tính tiêu cực, trong khi đó “động lực” lại được hiểu với nghĩa tích cực hơn. Tại các phiên tòa người ta thường sử dụng thuật ngữ động cơ của bị cáo, hơn là động lực, để chỉ hành động hay ý định nào đó có khuynh hướng gây ảnh hưởng xấu cho người khác. Khi được hỏi về sự khác biệt giữa động cơ và động lực? nhiều thành viên của những diễn đàn lớn như Painintheenglish và Grammarly đều đồng tình với quan điểm trên, điều này cho thấy mọi người thường có sự phân biệt rõ ràng giữa động cơ và động lực. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu lại chỉ ra điều trái ngược hoàn toàn, động cơ và động lực có thể được sử dụng như là những từ đồng nghĩa, và có thể sử dụng để thay thế cho nhau (Gordon, Martin, Feldman, & Leckman, 2011).
Cụ thể hơn, trong các tài liệu tiếng Anh, “động lực” là một thuật ngữ tâm lý thường sử dụng trong lĩnh vực giáo dục, và được hiểu là những nỗ lực và cam kết nhằm hướng tới mục tiêu. Động lực không được giải thích như là kết quả của một quá trình bắt đầu từ bất kỳ “động cơ” nào, trong khi đó động cơ và động lực trong tiếng Trung Quốc đều dịch sang cùng một từ là “Dongji”. Về mặt ý nghĩa không nhiều tài liệu có sự phân biệt giữa động cơ và động lực. Tuy nhiên để chỉ ra sự khác biệt thì “động cơ” chỉ ra lý do để làm một điều cụ thể mang tính tạm thời với mục tiêu không rõ ràng và tương đối hời hợt, trong khi đó “động lực” chỉ ra lý do để làm một điều gì đó lâu dài và mang tính rộng hơn là động cơ.
Động cơ và động lực có thể là giống nhau khi xét trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng khi xem xét trong lĩnh vực giáo dục, thì dùng khái niệm động lực học tập là phù hợp hơn (Zu, 2014). Trong phạm vi của nghiên cứu này không nhằm làm rõ sự khác biệt của động cơ và động lực như các nghiên cứu tâm lý hay về ngôn ngữ học, và xét cho đến cùng thì trong một khoảng thời gian nhất định thì cả hai khái niệm có thể được dùng để thay thế cho nhau. Vì vậy, trong nghiên cứu này chỉ sử dụng thuật ngữ về “động lực” và “động lực học tập” và không nhằm phân biệt hai khái niệm động cơ và động lực. 6 Luan van Động lực là những gì thúc đẩy bạn hành động.
Đó là nguồn cảm hứng của chúng ta để thực hiện một điều gì đó. Thật vậy, động lực từ lâu đã được xem như là nguyên nhân chính khởi nguồn cho các hành vi mang tính cá nhân. Động lực được định nghĩa là các hành động hoặc quá trình thúc đẩy; sự kích thích hay sự tác động nhằm khuyến khích tạo ra những nỗ lực cho cá nhân nào đó, nói chung động lực là một cái gì đó (chẳng hạn như nhu cầu hay mong muốn), sẽ là nguyên nhân giúp định hướng hành động của một cá nhân (Merriam-Webster, 1997). Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về yếu tố động lực, lĩnh vực chuyên môn của họ cũng rất đa dạng.
Phần đông trong số này là các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và kinh tế. Các khái niệm phức tạp về động lực thường nhấn mạnh sự kích thích một cách trực tiếp đến các cá nhân: hoặc là một sự tự nỗ lực bên trong, hoặc là một sự khuyến khích từ môi trường bên ngoài (Kinman & Kinman, 2001). Pinder đã giải thích những khó khăn khi đưa ra định nghĩa về động lực là do có quá nhiều “định hướng mang tính triết học về bản chất con người và về những điều có thể biết về con người” (Pinder, 2008). Ông cho rằng động lực là “một tập hợp các năng lượng có nguồn gốc từ cả bên trong lẫn bên ngoài của một cá nhân để bắt đầu một hành động có liên quan, mà hành động này có định hướng, có cường độ và thời gian xác định” (Pinder, 2008).
Rõ ràng việc nghiên cứu về động lực theo các tác giả là rất khó khăn, bởi chúng ta phải tập trung nghiên cứu vào bản chất của con người. Có ba điểm nổi bật trong định nghĩa mà (Kinman & Kinman, 2001) và (Pinder, 2008) đưa ra: thứ nhất, động lực có thể xuất phát từ bên trong con người hay sự kích thích từ bên ngoài, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về động lực bên trong và bên ngoài ở phần tiếp theo; thứ hai, động lực được xác định là một tập hợp các năng lượng, và chính những năng lượng này kích thích sự hành động của con người; thứ ba, tập hợp năng lượng này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực, để tạo nên hình thức, định hướng, cường độ hành vi của con người. Điều này lý giải vì sao con người lại thực hiện một hành động cụ thể nào đó, họ sẽ tiếp tục thực hiện cho đến khi đạt được mục đích và khi không còn động lực, họ sẽ dừng lại. Sau khi tiến hành kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA tiếp tục đưa dữ liệu vào phân tích tương quan hệ số Pearson để kiểm định mức độ tương quan giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập.
7 Luan van Kết quả phân tích tương quan hệ số Pearson cho thấy trong 05 yếu tố đều có sự tương quan với biến phụ thuộc sự hài lòng SHL với mức ý nghĩa 5%. Phân tích hồi quy được thực hiện với 5 biến độc lập là: Môi trường học tập – MTHT, điều kiện học tập – DKHT, chất lượng giảng viên –CLGV, chương trình đào tạo – CTDT, hoạt động phong trào – HDPT. Với 25% biến thiên động lực học tập của sinh viên. Phương trình hồi quy chuẩn hóa thể hiện sự hài lòng của khách hàng theo tất cả các biến độc lập: ĐLHT = 0,138*MTHT + 0,244*DKHT + 0,272*CLGV + ε Với kết quả này, có thể kết luận: Chất lượng giảng viên là yếu tố có tác động mạnh nhất đến động lực học tập của sinh viên.
Đứng thứ hai về sự tác động là điều kiện học tập, cuối cùng là môi trường học tập. Động lực bên trong và bên ngoài Động lực bên trong Nhiều cá nhân thường lựa chọn để đầu tư thời gian vào các hoạt động mà không mang lại lợi ích rõ ràng. Nguyên nhân cơ bản cho những hành vi này là do xuất phát từ động lực bên trong hay còn gọi là động lực nội tại. Động lực nội tại được định nghĩa là việc tham gia vào một hoạt động nào đó mà lợi ích của nó mang lại đơn thuần là những niềm vui mà chúng ta cảm nhận được, những cơ hội học tập, sự hài lòng, sự thú vị hay sự thách thức nào đó.
Động lực bên trong, giống như thái độ, được cho là có các thành phần nhận thức và tình cảm. Các yếu tố về nhận thức liên quan đến quyền tự quyết và sự phát triển về quyền làm chủ khả năng. Các yếu tố tình cảm thì có liên quan đến sự quan tâm, sự tò mò, sự kích thích, sự thích thú và sự hạnh phúc (Deci & Ryan, 1985). Động lực bên ngoài Các lý thuyết về động lực bên ngoài ngày nay thường dựa trên những nghiên cứu truyền thống đầy vững chắc, có xu hướng hẹp đi nhưng trở nên rõ ràng hơn (Skinner, 1953).
Động lực bên ngoài nói một cách đơn giản là yếu tố giúp con người Làm việc một cách chủ động hơn, nó liên quan đến vật chất, xã hội hoặc các biểu tượng phần thưởng, cụ thể như: Sự cạnh tranh; sự đánh giá; địa vị; tiền hoặc khuyến khích vật chất khác; tránh sự trừng phạt; hoặc những mệnh lệnh từ người khác (Amabile, Hill, Hennessey, & Tighe, 1994). 8 Sự khác biệt giữa động lực bên trong và động lực bên ngoài về cơ bản được các tác giả xem xét chính là phần thưởng, cụ thể hơn là lợi ích mà mỗi cá nhân nhận được khi thực hiện một hành động nào đó. Đến đây thì phần nào sự phức tạp về các khái niệm về động lực cũng đã được làm rõ. Vẫn còn rất nhiều khái niệm về động lực và các tranh luận đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra.
Nghiên cứu này không nhằm phân biệt các yếu tố tác đến động lực bên trong hay động lực bên ngoài trong nỗ lực học tập của các sinh viên. Tuy nhiên việc phân biệt rõ yếu tố động lực bên trong và động lực bên ngoài của các tác giả góp phần làm rõ hơn khái niệm động lực và đây chính là tiền đề cho những phân tích chuyên sâu hơn về động lực học tập.3 Động lực học tập Động lực học tập là khao khát, mong muốn, hào hứng, cảm thấy có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết trong quá trình học tập (Bomia, et al., 1997), là sự nỗ lực cố gắng để hoàn thành có kết quả một công việc nào đó (DuBrin, 2008). Động lực học tập là một vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến thái độ và kết quả học tập của sinh viên (Cole & Chan, 1994). Kết quả học tập, những gì sinh viên học và vận dụng được có tính quyết định lớn đến sự nghiệp của họ sau này.
Trước hết cần xác định, động lực đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của việc học (cũng như những việc khác). Có động lực mạnh thì dù có khó khăn đến mấy, người học vẫn có 9 Luan van thể vượt qua và thành công. Ngược lại, nếu không có động lực thúc đẩy, thì dù điều kiện có đầy đủ thuận lợi, học sinh vẫn mệt mỏi, vẫn thấy khó khăn và thất bại. Việc học tập có ý nghĩa hơn khi mọi người tham gia vì một lợi ích cá nhân nào đó của họ, chứ không phải nhằm thỏa mãn một nhu cầu bên ngoài (Elton, 1988); (Boud, 1990).
(Kroll, 1988) đã lập luận rằng động lực nội tại sẽ dẫn dắt người học tìm ra hoặc chấp nhận những kinh nghiệm học tập rõ ràng và phức tạp, điều này tạo cơ hội cho họ có thể thách thức cả thế giới quan của chính mình và do đó thúc đẩy tư duy trừu tượng của họ.