phần mở đầu; phần nội dung với 4 chương; phần kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 9 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá kết quả học tập của sinh viên liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đánh giá kết quả học tập là một nội dung quan trọng trong qui trình dạy học, được mọi quốc gia quan tâm.
Vì thế, vấn đề này luôn được tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Nghiên cứu lý thuyết chung về kiểm tra, đánh giá trong lớp học, tiêu biểu như công trình của tác giả C. Paloma Measuring Educational Achievement (Đo lường thành tích giáo dục) [170], đã mô tả chi tiết phương pháp đo lường đánh giá định lượng kết quả học tập của học sinh. Tác giả của Norman E.
Gronlund trong cuốn sách Measurement and Evaluation in Teaching (Đo lường và đánh giá trong dạy học) [172], giới thiệu tới giảng viên và những người đang theo học nghiệp vụ sư phạm về những nguyên tắc và quy trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả. Nghiên cứu về cách lập kế hoạch đánh giá, cho điểm, tác giả D.Macintosh trong cuốn sách Teacher's Guide to Assessment (Hướng dẫn giảng viên đánh giá) [137], đã trình bày cụ thể, chuyên sâu về những lý luận cơ bản của đánh giá trong lớp học, cách lập kế hoạch đánh giá, cách đánh giá, cho điểm. Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, tác giả Thomas A.Agelo, Patricia Cross, trong cuốn sách: Classroom 10 Assessment – Techiniques, (Kỹ thuật đánh giá lớp học) [170], đã giới thiệu cho giảng viên những phương pháp cụ thể đánh giá kết quả học tập trên lớp học và ra quyết định sử dụng các kết quả đánh giá. Tác giả Rick Stiggins (cùng các đồng nghiệp của mình) trong các cuốn sách: Student- Centered classrom ssessment (đánh giá lớp học là trung tâm) [170]; Classrom assessment for Student Learning ( đánh giá tình hình học tập cho sinh viên) [172]; Student- InvolvedAssessment or Learning (Sinh viên tham gia đánh giá kết quả học) [171], đã nghiên cứu về đánh giá trên lớp học với các phương pháp, kỹ thuật cụ thể, nghiên cứu mô hình đánh giá kết quả học tập, trong đó có đánh giá kết quả học tập trong phạm vi các trường đại học, cao đẳng như: Mô hình của trường Đại học Oxford, mô hình CLEP của Mỹ.
Nghiên cứu xu hướng đánh giá kết quả học tập, tác giả Anthony J.Nitko, đã đề cập đến nhiều nội dung của quá trình đánh giá kết quả học tập, bao gồm: Phát triển các kế hoạch giảng dạy kết hợp với đánh giá, các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả, đánh giá học sinh. Tác giả Ralph Tylor là một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm đánh giá, Ông sử dụng thuật ngữ đánh giá để biểu thị quy trình đánh giá sự tiến bộ loài người theo các mục tiêu đạt được và theo ông đánh giá người học thì kết quả học tập của họ là quan trọng nhất vì nó là sự thể hiện rõ ràng con đường để đi đến mục tiêu [173].Bloom cùng George F.Thomat Hasyings, công bố công trình nghiên cứu Evaluation to improve learning, có nghĩa là (Đánh giá để thúc đẩy học tập) [132], tác giả đã trình bày về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất. Công trình nhằm hỗ trợ các giảng viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến quy trình dạy và học.Stufflebean, đưa ra mô hình CIPP được hình thành dựa trên sự kết hợp đánh giá bối cảnh (Context), đánh giá đầu vào (Input), đánh giá quá trình (Process), đánh giá kết quả (Ptoduct).Scriven, đã đưa ra mô hình đánh giá không theo mục tiêu (Goal Free). Tiếp theo là sự ra đời của mô hình ứng đáp câu hỏi (Responsive) do R.Stake khởi xướng.
Hiện nay, trên thế giới, khoa học đánh giá giáo dục đang phát triển nhanh chóng, cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Anh được thành lập từ năm 1977 viết tắt là QAA (Quality AssurAnce Agency for Higher Education). Theo QAA, đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhằm mục đích: cung cấp thông tin phản hồi về sự tiến bộ trong học tập của sinh viên để thúc đẩy sinh viên học tập, cung cấp thông tin cho xã hội và các nhà quản lý giáo dục về mức độ đạt được về kiến thức, khả năng và kỹ năng của sinh viên theo tiêu chuẩn đã đặt ra (của Trường và của Quốc gia). QAA xây dựng bộ chỉ số thực hiện nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo thông qua đánh giá kết quả học tập của sinh viên gồm 15 quy tắc phù hợp với những tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo của châu Âu trong lĩnh vực giáo dục đại học. liên quan đến các khía cạnh như: quy định, quy trình, quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận và cá nhân liên quan, phương pháp đánh giá kết quả học tập, cơ chế chấm điểm, xử lý điểm, việc công bố điểm, lưu giữ thông tin, dữ liệu.
Bộ chỉ số này đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên được chính xác, công bằng, minh bạch, giúp cho việc khuyến khích được sinh viên nâng cao thành tích của mình. Đây là cơ sở để QAA kiểm định chất lượng đào tạo của các trường đại học. Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên được tiến hành trên cơ sở quản lý các nội dung các công việc này, đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập đúng theo các quy tắc đã đặt ra. 12 Ở Australia, đã xây dựng 16 nguyên tắc cốt lõi đánh giá công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở các trường đại học Australia Universities Teaching Commitee, Core principles assessment: Xác định đánh giá kết quả học tập là nhiệm vụ trung tâm trong toàn bộ quá trình dạy học, chứ không phải là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học; Hoạt động đánh giá kết quả học tập phải bám theo mục tiêu học tập (nội dung dạy học và kiến thức kỹ năng nào sẽ được đánh giá) nhằm tránh việc tạo nên sức ép đối với sinh viên, phải đánh giá được khả năng phân tích, tổng hợp thông tin của sinh viên, chứ không chỉ đơn giản là đánh giá khả năng nhớ thông tin đã học và những kỹ năng đơn giản; Có sự cân bằng giữa đánh giá trong quá trình và đánh giá tổng kết để có được những thông tin phản hồi có hiệu quả giúp sinh viên tiến bộ trong học tập, có quy định rõ ràng và có sự giám sát chặt chẽ đánh giá kết quả học tập nhằm đảm bảo tính công bằng, khách quan, đánh giá đúng chất lượng đào tạo; Đơn vị quản lý phải có văn bản hướng dẫn đánh giá kết quả học tập, phải làm cho sinh viên nhận thức được tác động tích cực của việc đánh giá kết quả học tập và việc đánh giá kết quả học tập phải được thiết kế nhằm thúc đẩy việc học của sinh viên.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong giáo dục đại học ở Mỹ. Đặc trưng của giáo dục đại học của Mỹ là tính đa dạng và phức tạp. Trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ được áp dụng từ rất sớm, đã tạo cơ hội cho sinh viên có thể chuyển tiếp giữa các trường. Sinh viên có thể lấy bằng cử nhân 4 năm bằng cách trước tiên tích luỹ tín chỉ tại trường đại học hai năm để đạt bằng phó cử nhân hoặc ngày càng nhiều sinh viên Mỹ theo học với thời gian dài hơn do hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên học bán thời gian và có thể tạm thời nghỉ học trong một khoảng thời gian và sau đó mang tín chỉ đã tích luỹ để xin học tiếp và lấy bằng tốt nghiệp.
Có thể nói nền giáo dục đại học của Mỹ là nền giáo dục đại chúng và Mỹ sẽ tiến tới việc 13 nhập học đại học phổ cập, do đó, hệ thống giáo dục đại học của Mỹ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu lớn của người dân; Với một nền giáo dục đại học rộng lớn, phức tạp, nên kiểm định chất lượng ở Mỹ đã được quan tâm từ rất sớm (hệ thống kiểm định chất lượng ra đời cách đây hơn 115 năm). Kiểm định chất lượng được thực hiện bởi các tổ chức tư nhân phi lợi nhuận và phi chính phủ, kiểm định chất lượng ở Mỹ nhằm đánh giá tình trạng được kiểm định công nhận là một tín hiệu cho sinh viên và công chúng về chất lượng của một trường hoặc một chương trình đào tạo. Là điều kiện để các trường đào tạo tiếp cận các nguồn tài trợ của liên bang. Chính phủ liên bang dựa vào sự đánh giá của các cơ quan kiểm định để khẳng định chất lượng của các trường.
Tạo sự thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của sinh viên từ trường này sang trường khác. Sinh viên sẽ dễ dàng được tiếp nhận học chuyển tiếp, nếu các tín chỉ mà sinh viên đã tích luỹ trước đó là của một trường hay một chương trình đã được công nhận chất lượng. Tạo sự tin tưởng cho nhà tuyển dụng. Nếu sinh viên tốt nghiệp một trường hay một chương trình đã được công nhận chất lượng thì đó cũng là một lợi thế cho họ khi xin việc.
Mô hình quản lý chất lượng đào tạo tổng thể Total Quality Management (TQM) là mô hình đã được nhiều nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục, đặc biệt là trong hệ thống đào tạo nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể ứng dụng tốt trong quản lý tổng thể về chất lượng đào tạo. Thực chất công việc đánh giá, nhận định chất lượng sản phẩm không chỉ là trách nhiệm của người quản lý, mà còn là nhiệm vụ của mọi thành viên trong đơn vị. Chất lượng sản phẩm muốn được nâng cao và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng (sản phẩm của đơn vị kinh tế thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh) hoặc yêu cầu của người sử dụng nguồn lao động (sản phẩm của cơ sở đào tạo) thì phải luôn luôn quan hệ mật thiết giữa việc sử dụng tối ưu yếu tố 14 con người với mọi nguồn lực khác của đơn vị.