Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu về vai trò của đội ngũ giảng viên đại học Richard C. Levin (2010) trong nghiên cứu “The Rise of Asia’s Universities” (Sự trỗi dậy của các trường đại học Châu Á) [140] đã đề cập về sự vươn lên của các đại học Châu Á trong những thập kỷ qua.
Tác giả khẳng định, mô hình đại học nghiên cứu được nhiều quốc gia của Châu Á xác định là yếu tố hàng đầu tạo động lực phát triển đất nước. Tác giả cũng cho rằng, NCKH cơ bản của các trường đại học có vai trò rất quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh toàn cầu. Tác giả nhấn mạnh, một trong những yếu tố được xem là điều kiện tiên quyết để trường đại học đạt đẳng cấp thế giới phụ thuộc vào năng lực nghiên cứu và xác định mô hình đào tạo. Vì vậy, trong xây dựng đội ngũ giảng viên, các trường đại học phải quan tâm thu hút các nhà khoa học giỏi.
Tuy nhiên, điều kiện trang thiết bị nghiên cứu và các chính sách để hỗ trợ giảng viên sẽ tác động trực tiếp đến vấn đề này. Tác giả cho rằng, việc thu hút các nhà khoa học giỏi gốc Hoa, gốc Ấn từ nước ngoài về làm việc trong xây dựng các trường đại học nghiên cứu mạnh là kinh nghiệm của các trường đại học ở Trung Quốc, Ấn Độ. Tác giả Ben Wildavsky (2010) trong “The Great brain race” (Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại) [129] đã khái quát cuộc cạnh tranh toàn cầu nhằm thu hút tài năng trí tuệ và nâng cấp giáo dục đại học trên thế giới. Tác giả đã khái quát sự tác động của toàn cầu hóa đối với giáo dục đại học, đồng thời nhấn mạnh, với vai trò tạo ra tri thức và tinh hoa cho xã hội, giáo dục đại học có ảnh hưởng tích cực đến việc định hình thế giới trong thế kỷ XXI.
Theo tác giả, cạnh tranh chất xám thực chất là cuộc cạnh tranh để giữ chân và thu hút các nhà 8 khoa học giỏi làm việc cho mình. Tác giả cho rằng, do có tầm nhìn và giải pháp chiến lược, chú trọng xây dựng các trường đại học thành những trung tâm khoa học công nghệ có sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới, coi trọng giữ chân sinh viên giỏi và thu hút chất xám quốc tế; họ xác định tiếng Anh trở thành ngôn ngữ bắt buộc trong giới nghiên cứu và kinh doanh; chủ động phát triển quan hệ hợp tác với các đại học nước ngoài, phần lớn với Hoa Kỳ và thuê các nhà khoa học, quản lý hàng đầu, các giáo sư nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu, thường trên cơ sở bán thời gian. là những nguyên nhân chủ yếu mang lại sự thành công cho Hàn Quốc và Singapore. Cuốn sách “Thế kỷ XXI - ánh sáng giáo dục” [75] của Ikeda Daisaku (2013) đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng của đội ngũ nhà giáo, đồng thời chỉ rõ những phẩm chất quan trọng mà họ để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Tác giả nhấn mạnh, cho dù thời đại nào đi nữa, giáo viên chính là môi trường giáo dục lớn nhất đối với người học. Theo UNESCO - dẫn theo Trần Khánh Đức (2014) [56] - trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người giảng viên không mất đi nhưng có sự thay đổi rõ rệt: “.Vai trò của giảng viênchuyển mạnh từ truyền thụ tri thức sang tổ chức hoạt động dạy học, khai thác tối đa tri thức trong xã hội; Coi trọng việc cá biệt hóa, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Yêu cầu trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết; Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên trong tập thể, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa giáo viên với nhau;. Khi đề cập đến các thành tố cơ bản của chất lượng đào tạo các ngành sư phạm ở các trường đại học nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, tác giả Sivone Reuvaibouthavy (2015) [101] đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, coi đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định, tác giả cũng nhấn mạnh yêu cầu về trình độ đào tạo đối với đội ngũ này. Tác giả John Vũ (2016) với “Giáo dục trong thời đại tri thức” [77] bàn đến rất nhiều vấn đề của giáo dục trong thời đại tri thức như giáo dục và kinh tế 9 thị trường, giáo dục và toàn cầu hóa, vai trò của giáo dục, công nghệ và giáo dục, giáo dục đại học, giáo dục của tương lai,… Tác giả khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ nhà giáo, tuy nhiên, trước những thay đổi của môi trường giáo dục trong thời đại tri thức, vai trò của người thầy thay đổi từ người truyền thụ tri thức sang huấn luyện và nêu gương đối với người học.
Vai trò của giảng viên cũng được đề cập và chứng minh rất thuyết phục từ sự thành công bước đầu ở các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu của Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong được thể hiện trong các nghiên cứu của Richard C. Levin (2010) [140], nghiên cứu của Ben Wildavsky (2010) [129] và nghiên cứu của Philip G Altbach và Gerard A. Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học Hướng nghiên cứu liên quan đến phẩm chất, năng lực của giảng viên: Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học thế kỷ XXI “Tầm nhìn và hành động” (1998) đã phác thảo những năng lực cơ bản đối với mỗi giảng viên gồm những yêu cầu cơ bản như: có kiến thức và am hiểu về người học; kỹ năng đánh giá người học; Năng lực cải thiện bản thân; năng lực khai thác, ứng dụng công nghệ vào thực tiễn giảng dạy; năng lực nắm bắt nhu cầu xã hội đối với đầu ra của sản phẩm đào tạo; khai thác những thành tựu mới về tổ chức hoạt động dạy học với nhiều hình thức khác nhau; quan tâm chú ý đến những quan điểm và nguyện vọng của các đối tượng sinh viên khác nhau; nắm được sự tác động của nhân tố quốc tế, nhất là ảnh hưởng của các sắc thái văn hoá đến hoạt động đào tạo; năng lực dạy các đối tượng người học thuộc những nhóm khác nhau cả về độ tuổi, điều kiện KT-XH…; năng lực thực hiện dạy học chính khóa, xêmina, thực hành.; có khả năng hiểu được nhu cầu về nghề nghiệp của các cá nhân. Cũng tại Hội nghị này, UNESCO đã nêu Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện đại, theo đó tại điểm 18 xác định: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành 10 những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức” và tại điểm 16 nêu rõ “chương trình đào tạo giảng viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất” [56].
Jaap Scheerens (2010) với “Teacher’Professional Development” (Phát triển chuyên môn của giáo viên) [132] đã nhấn mạnh đến những yếu tố tạo nên sự phát triển chuyên môn của giảng viên như: phong cách, năng lực giảng dạy và kết quả giảng dạy. Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau. Tác giả nhấn mạnh: “phong cách, năng lực giảng dạy của giảng viên là điều kiện để giảng viên thực hiện có hiệu quả việc giảng dạy; ngược lại, hiệu quả việc giảng dạy là thước đo năng lực của giảng viên”. Các nghiên cứu của Alam T.
(2011) với “Factors affecting Teachers and Motivation” (Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực của giáo viên) [127] và nghiên cứu của mạng lưới các trường đại học hàng đầu của khu vực Đông Nam Á (AUN) (2011) “Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level” (tạm dịch là, Hướng dẫn đánh giá chất lượng thực tế của AUN thông qua chương trình đào tạo) [127] đã thừa nhận rằng để thực hiện tốt chức năng của trường đại học, vấn đề cốt lõi là phải xây dựng ĐNGV có năng lực. Theo đó, năng lực cơ bản của GV cần có là năng lực giảng dạy và NCKH. Trong đó, năng lực giảng dạy bao gồm: năng lực về phương pháp giảng dạy, năng lực tương tác với người học và năng lực chia sẻ thông tin với đồng nghiệp; năng lực NCKH của GV thể hiện ở các hoạt động: tham gia viết sách, giáo trình và tài liệu tham khảo, tham gia vào các dự án NCKH, các công trình NCKH được công bố, khả năng thuyết trình trong các hội nghị/ hội thảo khoa học và tham gia vào các Hội đồng thẩm định/biên tập các bài báo cho các tạp chí khoa học/hội nghị, hội thảo/đề cương cho các đề tài. Viện nghiên cứu GDĐH (Đại học Hiroshima, Nhật Bản) (2013), “The Changing Academic Profession in Asia: Teaching, Research, Governance and Management” [139] là tập hợp các bài nghiên cứu về GDĐH của các học giả Trung Quốc, Campuchia, Indonesia, Nhật Bản, Malaixia, Đài Loan, Mỹ và 11 Việt Nam.
Các tác giả cho rằng, đặc điểm nổi bật trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, những điểm tương đồng và khác biệt có thể được tìm thấy trong từng nhóm quốc gia tham gia. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã đề cập, một số học giả bước đầu đề xuất mô hình chung trong các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, quản trị và quản lý trong GDĐH của các quốc gia trong khu vực Châu Á. Một số nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Jaap Scheerens (2010) trong “Teachers Professional development - Europe in international comparison” [132] cho rằng, phát triển chuyên môn của đội ngũ giảng viên là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời nhấn mạnh các yêu cầu cơ bản để cải thiện chất lượng giảng dạy của họ. Tác giả cũng nhấn mạnh, phát triển chuyên môn cho giảng viên phải là việc làm được tổ chức thường xuyên thông qua các nhiệm vụ chuyên môn cơ bản của giảng viên.
Do điều kiện thực tiễn luôn vận động, biến đổi, đối tượng người học rất đa dạng, xuất phát từ nhiều nguồn với những đặc điểm khác nhau, do đó đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải thường xuyên chú trọng cập nhật, bổ sung kiến thức mới và luôn trau dồi các kỹ năng cần thiết mới có thể đảm đương tốt sứ mệnh của mình. Philip G Altbach và Gerard A. Postiglione (2012) [138] đã rút ra, chính việc bảo đảm điều kiện làm việc và các thực hiện chế độ chính sách thỏa đáng là vấn đề mấu chốt giúp nhiều trường đại học ở Hong Kong có đội ngũ giảng viên có chất lượng, thông qua đó xây dựng và khẳng định uy tín, thương hiệu trường đại học.