CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI XUNG ĐỘT CỦA HỌC SINH THPT 1. Khái niệm, phân loại Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Xung đột là sự khác biệt (về quan điểm, mục đích, động cơ…) giữa các thành viên trong quá trình thực hiện hoạt động của nhóm” [1]. Xung đột là quá trình trong đó một bên nhận ra rằng quyền lợi của mình hoặc đối lập hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một bên khác.
Xung đột có thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc tích cực, phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột và vào cách giải quyết xung đột. Không phải lúc nào khái niệm xung đột cũng đều hiểu theo nghĩa xấu. Có những xung đột tích cực giúp hoàn thiện bản thân, tăng năng suất và nếu được giải quyết tốt xung đột sẽ đem lại các điểm tích cực như: nâng cao sự hiểu biết và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các thành viên trong nhóm; nâng cao khả năng phối hợp nhóm thông qua việc thảo luận, thương thảo khi giải quyết mâu thuẫn; nâng cao hiểu biết của từng cá nhân về các mục tiêu của mình, biết được đâu là những mục tiêu quan trọng nhất, giải quyết triệt để quyền lợi vật chất của các cá nhân. Ngược lại, xung đột không được xử lý tốt sẽ làm cho mâu thuẫn giữa các bên trở nên trầm trọng, khó giải quyết.
Xung đột là phản ứng tâm lý và hành vi đối với nhận thức rằng một người khác đang ngăn mình đạt được mục đích, lấy đi quyền hành xử theo một cách cụ thể hoặc vi phạm những kỳ vọng của mối quan hệ nào đó. Xung đột thường xảy ra là kết quả của việc một người hiểu sai về mục tiêu, ý định hoặc hành vi khác của một người khác. Mức độ xung đột xảy ra liên quan đến tầm quan trọng của mục tiêu, hành vi hoặc mối quan hệ nào đó. Xung đột là sự bùng nổ mâu thuẫn giữa các thành viên trong nhóm khi thực hiện hoạt động chung của nhóm.
Xung đột xảy ra khi các mâu thuẫn, bất đồng giữa các thành viên trong nhóm nảy sinh nhưng không được giải quyết trong quá trình hoạt động cùng nhau. Đó có thể là sự bùng nổ của những mâu thuẫn về lợi ích, sở thích, quan điểm, lối sống, cách cư xử… giữa các cá nhân. Căn cứ vào hình thức thể hiện, có thể phân loại thành các xung đột sau: 15 - Xung đột công khai là xung đột thể hiện rõ quan điểm, sự mâu thuẫn, tranh chấp giữa các chủ thể với nhau trong cuộc sống hàng ngày. Đây là loại xung đột phổ biến hiện nay và mọi người có thể lựa chọn các phương pháp giải quyết xung đột để giải quyết.
Dù lựa chọn hình thức giải quyết xung đột nào thì kết quả cuối cùng mọi người muốn hướng tới là xung đột công khai được triệt tiêu hoàn toàn trên thực tế. - Xung đột ngầm là loại xung đột không thể hiện ra bên ngoài bằng hành động, hành vi, cử chỉ hoặc lợi ích vật chất nhưng “trong lòng” lại không đồng ý với quan điểm, lối sống, lợi ích vật chất của nhau, dẫn tới xung đột và mâu thuẫn với nhau. Loại xung đột này, không đưa tới tranh chấp trong thực tế nhưng về mức độ của xung đột thì có thể mạnh hơn xung đột công khai. Căn cứ vào chủ thể tham gia xung đột, người ta có thể chia xung đột thành các loại sau: - Xung đột trong mỗi cá nhân: loại xung đột này xuất hiện khi cá nhân tham gia vào những nhóm xã hội có những lợi ích khác nhau.
Họ lúng túng không biết chọn theo lợi ích nào, lợi ích của mỗi nhóm đều có sức hấp dãn với cá nhân nhưng không cho phép cá nhan chọn cả hai, mà chỉ được phép chọn một. - Xung đột cá nhân với cá nhân: loại xung đột này diễn ra khi cá nhân này cho rằng cá nhân kia cản trở hoặc phá hoại lợi ích của mình. - Xung đột cá nhân với tập thể: đây là loại xung đột xuất hiện khi cá nhân cho rằng tập thể ngăn cản lợi ích của họ và họ không chấp nhận ý kiến, quyết định của tập thể. - Xung đột tập thể với tập thể: loại xung đột này vẫn thường xảy ra khi tập thể này cho rằng tập thể kia ngăn cản hoặc phá hoại lợi ích của tập thể mình.
Một số nhà tâm lý học đưa ra 4 mức độ của xung đột dựa trên cơ sở phức tạp của xung đột. Mức độ 1: xung đột giả. Chỉ một bên tìm cách công kích, gây sự. Mức độ 2: xung đột tương đối.
Cả hai bên tìm cơ hội chống đối nhau. Mức độ 3: xung đột phức tạp. Lúc đầu là xung đột tương đồng nhưng sau đó kéo theo nhiều người cùng tham gia. Mức độ 4: xung đột bùng nổ.
sau một thời gian ngấm ngầm nén chịu, trong khoảnh khắc sự bực bội đạt đến cực độ. Mức độ xung đột Mức độ 1: sự đồng nhất. Giữa các cá nhân có sự tương đồng, thống nhất hay hòa hợp về nhận thức, quan điểm, thái độ, hành động. Tuy nhiên, sự đồng nhất vẫn ẩn dấu sự khác biệt chưa có cơ hội bộc lộ ra ngoài.
Chúng ta không thấy sự xung đột vì xung đột đang ở dạng ẩn dấu (đồng nhất tiêu cực). Mức độ 2: sự khác nhau. Ở mức độ này sự khác nhau về nhận thức, quan điểm, thái độ, hành động giữa các cá nhân, giữa các nhóm, giữa các cá nhân với nhóm đã được bộc lộ ra ngoài. Xung đột bắt đầu xuất hiện nhưng chưa gay gắt.
Mức độ 3: sự đối lập. Giữa các cá nhân có sự ngược nhau về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động. Sự ngược chiều nhau được bộc lộ và xung đột dần trở nên gay gắt. Mức độ 4: mâu thuẫn.
Đó là sự chống đối lại nhau của các chủ thể trong tương tác, trong quan hệ. Tuy nhiên, sự chống đối này chưa đến mức đối kháng vẫn có thể điều hòa được. Mức độ 5: xung đột. Trong giai đoạn này xung đột đã trở nên rất gay gắt không thể điều hòa được giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động.
Có sự phân kháng mạnh mẽ từ 2 bên xung đột. Mức độ 1: thái độ tiêu cực kéo dài trong quan hệ. Dấu hiệu của thái độ này có thể là lo lắng, giọng nói không thân thiện, hay kêu ca, không hiểu nhau, ý kiến khác nhau… Mức độ 2: sự căng thẳng tiêu cực. Dấu hiệu là lời lẽ kích động, quan điểm khác nhau, sự không bằng lòng kéo dài, chống đối, nghe trộm.
Mức độ 3: xung đột. Dấu hiệu bùng nổ, cắn dứt, xúc phạm đến nhau, cãi nhau, dùng vũ lực, bỏ bê công việc. Biểu hiện của xung đột Thứ nhất: phương thức tranh cãi. Đây là hình thức xung đột biểu hiện bằng ngôn ngữ nói – hình thức biểu hiện thường thấy nhất.
Khi có sự bất bình, oan ức chủ thể thường phản ứng ngay bằng lời nói. Thứ 2: phương thức chống đối. Khi xảy ra xung đột, chủ thể phủ nhận mọi uy tín, trách nhiệm của đối phương. Im lặng cũng là một biểu hiện của sự chống đối.
17 Trong mối quan hệ này nó thể hiện ở chỗ chủ thể lảng tránh, tranh cãi khi có bất đồng quan điểm. Thứ 3: phương thức dọa dẫm, đòi hỏi, yêu sách. Đây là hình thức mà chủ thể báo trước cho đối phương biết hậu quả của việc họ làm. Hình thức này gây ra sự lo lắng cho đối phương, khiến đối phương vì sợ mà phải làm theo ý chủ thể.
Thứ 4: phương thức gây áp lực tâm lý. Gây áp lực tâm lý là hình thức biểu hiện mà ở đây chủ thể dùng những cách như khóc lóc, giận dỗi, tránh gặp mặt, bỏ đi…tác động trực tiếp lên đối phương làm cho đối phương phải nhượng bộ, thỏa mãn những yêu cầu của chủ thể. Thứ 5: phương thức các hành vi lệch lạc. Biểu hiện này thể hiện ở việc chủ thể xa lánh, bỏ đi, rơi vào tệ nạn xã hội, trầm cảm, rối loạn cách thức trong ứng xử.
Phương pháp giải quyết xung đột Phương pháp cạnh tranh Đây là phương pháp giải quyết xung đột bằng cách các bên đều giữ vững lập trường của mình. Họ cạnh tranh với nhau để dành quyền lợi tốt hơn và cố gắng dành chiến thắng (nếu đối phương không có quan hệ thân thiết với họ). Hình thức giải quyết xung đột này chứa đựng nhiều yếu tố gây hấn và có thể khiến cho đối phương bị tổn thương hay bị xúc phạm. Hình thức này phù hợp với giải quyết xung đột khi: • Vấn đề cần được giải quyết nhanh chóng hoặc không quan trọng; • Người quyết định biết chắc mình đúng; • Vấn đề nảy sinh xung đột không phải lâu dài và định kỳ.
Hình thức này không phù hợp với giải quyết xung đột khi: • Mọi người cảm thấy nhạy cảm với xung đột; • Tình huống không khẩn cấp. Phương pháp hợp tác Là việc giải quyết xung đột bằng cách thỏa mãn tất cả mọi người có liên quan. Với hình thức này, các bên có thể cùng nhau làm việc để đưa ra giải pháp hai bên cùng có lợi. Phương pháp giải quyết xung đột này chủ yếu hướng đến yếu tố tích cực, chủ động hơn là thụ động hoặc gây hấn.
Phương pháp giải quyết xung độ này áp dụng khi: 18 • Vấn đề là rất quan trọng và có đủ thời gian để tập hợp quan điểm, thông tin từ nhiều phía để có phương pháp xử lý hoàn hảo nhất; • Áp dụng với những tình huống không khẩn cấp; • Xung đột liên quan đến nhiều người hay nhiều thành viên của các nhóm khác nhau; cần tạo dựng mối quan hệ lâu dài giữa các bên; • Những nỗ lực giải quyết xung đột trước đó bị thất bại. Tuy nhiên, phương pháp giải quyết xung đột này sẽ không nên áp dụng khi cần ra quyết định ngay lập tức; vấn đề không quan trọng. Phương pháp lẩn tránh (từ bỏ) Là cách giải quyết xung đột bằng cách lẩn tránh các xung đột, phó mặc cho đối phương định đoạt hoặc người thứ ba định đoạt. Người sử dụng hình thức này có xu hướng chấp nhận mọi quyết định mà không có bất kỳ câu hỏi nào, tránh tạo ra mâu thuẫn và giao phó mọi công việc và quyết định, khó khăn cho đối phương.
Những người dùng phương pháp này không tham gia vào tranh luận để đòi quyền lợi. Dù cho kết quả thế nào họ cũng không có ý kiến, và thường tích tụ lại sự không hài lòng của mình. Đây là hình thức giải quyết xung đột bị động và không hiệu quả mặc dù có thể áp dụng trong một số trường hợp.