phần mở đầu và 10 phụ lục (1/ giáo án thực nghiệm đối chứng. 2/Thiết kế giáo án thực nghiệm. 3/ Thuyết minh giáo án thực nghiệm.4/ Phiếu tham khảo ý kiến giáo viên. 5/ Phiếu tham khảo ý kiến học sinh.
6/ Kết quả thu nhận từ phiếu tham khảo ý kiến giáo viên và học sinh THPT. 7/ Biên soạn một số đề văn từ tình huống thực tiễn. 8/ checklist kiểm tra, đánh giá học sinh. 9/ Phiếu dự giờ.
10/ Hình ảnh minh họa. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Trong chương này người viết sẽ làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết, thực tiễn và một số thuật ngữ của đề tài với các nội dung chính: một số vấn đề chung về KNS, vai trò và nhiệm vụ của việc dạy KNS cho học sinh. Đặc biệt người viết sẽ đi sâu vào đặc trưng của bộ môn Ngữ văn để làm rõ bản chất của việc dạy kĩ năng sống trong dạy học văn là một quá trình thống nhất. Dạy văn thực chất là dạy làm người.
Vì vậy việc kết hợp một số kĩ năng sống trong dạy học văn chính là định hướng năng lực giao tiếp trong tiếng Việt, năng lực thẩm mĩ và năng lực ứng phó với các vấn đề trong xã hội cho học sinh, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội về nguồn nhân lực mới trong quá trình hội nhập quốc tế theo bốn trụ cột giáo dục mà tổ chức UNESCO đưa ra: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để chung sống cùng nhau. Một số vấn đề chung về giáo dục KNS 1. Kĩ năng Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, ở mỗi quan niệm là cách nhìn khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước để minh chứng cho sự sinh động về khái niệm kĩ năng. Dưới đây là một số khái niệm: Trong từ điển Từ và ngữ Hán Việt, Nguyễn Lân (1989) đã giải thích "kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn"[37, Tr.
Theo từ điển Giáo dục học "kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể để tiến hành hành động ấy, cho dù là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ" [ 56, Tr. Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng "Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để có thể hành động phù hợp với những điệu kiện cho phép"[57, tr. Từ các khái niệm kĩ năng mà chúng tôi dẫn trên, có thể thấy đó là minh chứng cho sự sinh động về các cách hiểu khác nhau của các tác giả. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy hai quan niêm hình thành nên các khái niệm này là: Quan niệm thứ nhất, theo từ điển Giáo dục học và từ điển từ và ngữ Hán 10 Việt thì kĩ năng chính là một hành động trí tuệ của con người.
Quan niệm thứ hai, các tác giả Huỳnh Văn Sơn, và một số tác giả khác như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết và Trần Thị Quốc Minh thì cho rằng kĩ năng là một khả năng, năng lực của con người. Dù hiểu theo góc độ nào thì kĩ năng cũng chính là khả năng thực hiện những thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân. Kĩ năng chính là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức bản thân, giúp con người làm việc có kế hoạch, tổ chức, chuyên nghiệp và hiệu quả. Kĩ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong hoàn cảnh điều kiện nhất định và đạt chỉ tiêu nhất định.
Kĩ năng sống Tài liệu Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (2010) của Bộ Giáo dục & Đào tạo đã dẫn ra nhiều định nghĩa về KNS của các tổ chức như WHO, UNICEF cụ thể là: Tổ chức y tế thế giới WHO (1993) cho rằng: “KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive) giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Theo quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, UNICEF (1995):“KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Trong đó quan tâm tới sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng”[8, tr. Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc UNESCO (2003) quan niệm: “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
Đó là khả năng làm chủ hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với tư cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức thức hàng ngày” [8, Tr. Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục KNS của Vụ giáo dục thể chất, tác giả Nguyễn Võ Kì Anh cho rằng: “KNS là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày" [8, tr. Phân tích các quan niệm trên cho thấy: quan niệm của WHO, KNS là các kĩ năng mang tính xã hội và kĩ năng về giao tiếp vận dụng trong đời sống hàng ngày, 11 đặc biệt nhấn mạnh khả năng của cá nhân, có thể duy trì trạng thái tinh thần, biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường quanh mình. Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kĩ năng cụ thể.
Còn quan niệm của UNICEF nhấn mạnh rằng kĩ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. Quan niệm về KNS của UNESCO là rất chi tiết,cụ thể và nhấn mạnh thêm các kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ phù hợp với quan điểm giáo dục với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống cùng nhau (1996). Ủy ban quốc tế về Giáo dục cho thể kỉ XXI trực thuộc UNESCO do Jacques Delors làm chủ tịch đưa ra báo cáo khẳng định vai trò giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại. Theo UNESCO, KNS không chỉ là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia cuộc sống hàng ngày mà còn bao gồm các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người.
Như vậy, có nhiều cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề. Trong đề tài này, chúng tôi dựa vào khái niệm của tổ chức UNESCO để đưa ra khái niệm KNS, vì theo chúng tôi khái niệm này phù hợp làm cơ sở nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống trong giờ dạy văn cho học sinh trong nhà trường THPT: "KNS là khả năng đáp ứng và đối phó với những nhu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày của mỗi người và là khả năng cần thiết đối với học sinh để các em có thể tự tin trong cuộc sống". KNS có thể hình thành qua nhiều con đường như bắt chước, tương tác trải nghiệm nhưng cơ bản nhất vẫn là thông qua quá trình giáo dục. Bởi vì, hoạt động GD KNS trong nhà trường giúp người học hình thành thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị cuộc sống.
Trong đó văn học với chức năng hình thành và phát triển nhân cách cho con người rất gần gũi với chúng ta và có thể thực hiện tốt vai trò phát triển KNS cho học sinh. Tên gọi và phân loại KNS 1. Tên gọi Kĩ năng sống được hiểu là khả năng thích nghi và hành động tích cực của con người để ứng phó với tất cả các mặt trong đời sống diễn ra hành ngày xung quanh chúng ta. Đây là một phạm trù rộng, tổng hòa của nhiều phương diện về hành vi, thái độ và tâm hồn của con người.
Chính vì vậy, trong quá trình khảo sát, tìm hiểu trên các trang web Kinangsong.Org, website của một số trung tâm KNS được thiết lập trên toàn quốc và từ nguồn Tài liệu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT (2010) của Bộ Giáo dục & Đào tạo, chúng tôi đã tìm được các thuật ngữ thuộc nội hàm của KNS như: Kĩ năng tâm lí xã hội (Social Emotional), kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy (Personal, learning and thinking skill), kĩ năng mềm (Life skill). Sở dĩ tác giả tìm hiểu cách gọi tên khác nhau của KNS là vì muốn lưu ý tới một số tính chất của KNS. Chính các tính chất này của KNS đã hình thành nên những tên gọi khác nhau của nó. Thứ nhất, KNS không tự nhiên mà có, nó được hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống.
Quá trình này diễn ra cả bên trong lẫn bên ngoài hệ thống giáo dục. Thứ hai, KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng đặc thù của mỗi cá nhân. KNS mang tính xã hội vì nó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.
KNS là một thành tố rất quan trọng trong mục tiêu giáo dục của nhà trường hiện đại. Phân loại kĩ năng sống Theo nguồn tài liệu Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (2010) của Bộ Giáo dục & Đào tạo [8, Tr.9-10], các tác giả đã chỉ ra cách phân loại của tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF bao gồm: kĩ năng giải quyết vấn đề problemsolving), kĩ năng suy nghĩ, tư duy phê phán (critical thinking), kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skill), kĩ năng ra quyết đinh (decsision-making), kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking), kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills), kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị, kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy), kĩ 13 năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc. Ở Việt nam, dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của quốc tế và thực trạng giáo dục KNS trong nước những năm qua.