Phần mở đầu: nêu vắn tắt bối cảnh xảy ra tình huống. - Nội dung tình huống. - Các vấn đề, các yêu cầu cần thực hiện được biểu đạt dưới dạng câu hỏi. Phân loại a/ Tình huống didactic (tình huống lí luận dạy học) - GV tạo ra mâu thuẫn, lôi cuốn HS vào vấn đề, rồi tự mình giải quyết vấn đề.
- Thường dùng trong phương pháp diễn giảng nêu vấn đề. - Trong diễn giảng nêu vấn đề, tương tác giữa GV và HS diễn ra như sau: Bảng 1. Hoạt động của GV - HS trong tình huống didactic Hoạt động của GV Hoạt động của HS - Tạo tình huống có vấn đề: Nêu mâu thuẫn, - Tiếp nhận vấn đề, nhiệm vụ nhận thức một kích thích động viên, giao nhiệm vụ nhận cách hứng thú, chuẩn bị tâm thế học tập, thức. - Thông báo hệ thống kiến thức: Thuyết - Nghe và ghi chép, suy nghĩ, hệ thống hóa trình, đặt câu hỏi, giảng giải, làm thí nghiệm, kiến thức, trả lời câu hỏi, theo dõi thí giới thiệu các dụng cụ trực quan, sử dụng nghiệm, quan sát các dụng cụ trực quan, đặt giáo án điện tử.
câu hỏi nếu chưa hiểu bài. - Tổ chức luyện tập, rèn luyện kĩ năng. - Làm bài tập, trả lời câu hỏi. - Tổ chức củng cố, vận dụng kiến thức.
- Làm bài kiểm tra. - Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. - Tiếp nhận bài tập về nhà. 17 - Ra bài tập, nhiệm vụ học tập ở nhà.
- Nhìn chung, trong loại bài học này cũng đã có tương tác giữa GV và HS, nhưng chiều tác động chủ yếu vẫn đi theo hướng từ GV đến HS. - Điều đáng chú ý là các tình huống có vấn đề, hệ thống câu hỏi và bài tập phải đặt ra thế nào cho kích thích được tính tích cực và hứng thú của HS. - Loại bài học này đang giữ một vị trí rất quan trọng trong nhà trường Việt Nam hiện nay. b/ Tình huống a-didactic (tình huống phi lí luận dạy học) - GV tạo ra mâu thuẫn, lôi cuốn HS vào vấn đề, rồi tổ chức, hướng dẫn để HS tự giải quyết vấn đề.
- Thường sử dụng khi tổ chức tìm tòi từng phần. Hoạt động của GV - HS trong tình huống a- didactic Hoạt động của GV Hoạt động của HS Bước 1: Chuyển giao tình huống. Bước 1: Tiếp nhận sự chuyển giao tình huống. - Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu. - Điều kiện và phương tiện nghiên cứu. Bước 2: Theo dõi sự nghiên cứu cá nhân Bước 2: Nghiên cứu cá nhân. - Tiếp nhận các nguồn thông tin.
- Thu thập thông tin. - Xử lí thông tin. - Chuẩn bị câu hỏi. - Chuẩn bị thảo luận, phát biểu ở tổ, ở lớp Bước 3: Theo dõi sự trình bày các kết quả Bước 3: Trình bày kết quả tìm tòi, nghiên cứu.
- Thể chế hóa cục bộ: thảo luận nhóm. - Thể chế hóa chính thức: thảo luận ở lớp dưới sự hướng dẫn của GV. Tóm lại, ta có thể hình dung dạy học tương tác theo sơ đồ sau: 18 GV tạo nội dung học tập phức hợp -GV HS (cá nhân - TƯƠNG TÁC -Kiến thức nhóm) - HS Môi trường học tập Hình 1. Sơ đồ dạy học tương tác - Trong đó: + GV- đóng vai trò là người hướng dẫn- khuyến khích HS đặt câu hỏi, tình huống để khám phá; dự đoán, tìm hiểu kiến thức vốn có của HS; tạo môi trường thuận lợi, cơ hội để HS trình bày ý kiến, nguyện vọng tìm hiểu, khám phá bài học.GV là người khẳng định lại kiến thức khoa học cho HS, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, tư vấn, trợ giúp, tạo điều kiện thúc đẩy HS học tập.
+ HS- người thợ chính của quá trình đào tạo- nắm bắt vấn đề học tập, xây dựng kế hoạch nắm bắt tri thức cho mình thông qua mối liên hệ với các kiến thức đã có; HS có thể tự thể hiện mình trong giờ học thông qua các phát biểu, các bài tập mà các em tự giải quyết, thông qua trao đổi, đàm thoại với GV và các bạn; cuối cùng căn cứ vào kết luận của GV và các HS khác để tự kiểm tra, đánh giá, tự sửa sai, điều chỉnh kiến thức. Nghĩa là các em đã chủ động thực hiện hoạt động kiến tạo kiến thức một cách tích cực thông qua sự hướng dẫn của GV. - Mục tiêu của dạy học tương tác cũng như các khuynh hướng dạy học khác đều nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng, lợi ích của HS. - Để thực hiện dạy học tương tác, GV cũng phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học: trực quan, nêu vấn đề, đàm thoại,.phối hợp với sự đổi mới hình thức dạy học như thảo luận nhóm, dạy học nêu vấn đề,.
và cải tiến phương tiện dạy học, áp dụng CNTT, các phần mềm mới.vào dạy học. - Trong quá trình dạy và học luôn diễn ra sự tương tác 2 chiều qua lại giữa GV - HS, HS- HS, HS- môi trường thông qua: giải bài tập, thi đua nhóm,. Một số hình thức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác [12, tr 23 – 24] Theo quan điểm sư phạm tương tác phân chia phương pháp sư phạm như sau: phương pháp sư phạm tự do, phương pháp sư phạm bách khoa, phương pháp sư phạm mở và phương pháp sư phạm đóng. Hình thức sư phạm tự do Phương pháp này tập trung hoàn toàn vào người học.
Tất cả phải xuất phát từ người học. Người học tự đưa ra kế hoạch học tập của mình, học khi họ muốn, họ có sự tự do khi lựa chọn nội dung, lựa chọn người dạy và tự mình quyết định học tới đâu. Phương pháp này thích hợp với đối tượng học nghề và môn học tự chọn. Phương pháp này làm cho người học chủ động, tích cực và có quyền tự quyết.
Hình thức sư phạm đóng (còn được gọi là hình thức) Phương pháp này dựa vào chương trình học. Người học được đánh giá theo năng lực mà anh ta thu lượm được, theo những kết quả mà anh ta phải đạt được. Việc học được tuân theo một trật tự logic so với môn được dạy chứ không phải so với phương pháp học của người học. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở Việt Nam.
Người học phải học theo chương trình, chịu chi phối bởi nhiều qui tắc, nội qui, theo hình thức kiểm tra, nội dung, thời gian học,…Với hình thức này người học là học sinh, người dạy là thầy cô vì người dạy và người học bó gọn trong nhiệm vụ dạy và học. Hình thức sư phạm bách khoa Phương pháp này hướng rất rõ về người dạy, người dạy đòi hỏi người học cái mà người dạy mong đợi ở người học. Người học thụ động tuân theo những quyết định của người dạy, họ thụ động tích lũy kiến thức mà người dạy truyền thụ và làm chủ các kỹ năng mà người dạy giới thiệu cho mình. Hình thức sư phạm mở (hay còn gọi là không hình thức) Phương pháp này đặc biệt nhấn mạnh vào sự tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường.
Người học có tiềm năng để hoàn thành một phương pháp học tự chủ và cá nhân. Phương pháp này được tiến hành nhờ người dạy – người đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Môi trường được người học và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức. Bốn phương thức sư phạm này không tạo thành những ngăn kín, mỗi phương pháp có những đặc tính mạnh của mình, nhưng thực tế chúng lại vay mượn ít nhiều các yếu tố của nhau.
Quan điểm DHTT thuộc phương pháp sư phạm mở. Nó tập trung trước hết vào người học và cơ bản dựa trên các tác động qua lại giữa người dạy, người học và môi trường. 20 Người học được coi như là người chịu trách nhiệm chính về phương pháp của mình, không theo hứng thú từng lúc, người dạy bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình hướng dẫn người học tùy theo mục tiêu được xác định trong chương trình học. Người dạy và người học bị ảnh hưởng bởi môi trường bên trong cũng như bên ngoài của họ mà họ có thể cùng nhau phối hợp sắp xếp.
Tóm lại, quan điểm DHTT trở nên linh hoạt, bản chất của nó thuộc về phương pháp sư phạm mở bởi vì nó dựa trên sự tác động qua lại giữa người dạy, người học và môi trường. Tuy nhiên, nó cũng vay mượn một đặc tính của phương pháp sư phạm tự do bằng cách coi người học là trung tâm của hoạt động sư phạm. Nó tận dụng sự can thiệp có lợi của người dạy bằng phương pháp sư phạm bách khoa, có tính đến kiến thức và kinh nghiệm của người dạy. Cuối cùng nó chấp nhận ở phương pháp sư phạm đóng là chương trình học đưa ra đường hướng chỉ đạo việc học.
Lập kế hoạch dạy học theo quan điểm dạy học tương tác [33, tr 31 – 38] 1. Xác định mục tiêu Theo quan điểm DHTT người dạy với tư cách là người hướng dẫn, xác định kiến thức mới cần thu lượm nhưng chính người học với tư cách là người thợ chính của việc học cố gắng đạt được tri thức. Trong quá trình học tập hoặc khi kết thúc, người dạy lo lắng quan tâm đánh giá bước đi của người học với mục đích mang đến những hiệu chỉnh xác đáng hoặc thực hiện một hiệu chính khác. Do đó, cả người dạy và người học cần xác định rõ mục tiêu của việc dạy và việc học, đặt mục tiêu cho từng chặng đường, theo dõi và sát sao thực hiện.
Việc xác định rõ mục tiêu rất quan trọng, nó mang tính định hướng và phần nào quyết định thành công của cả quá trình dạy và học. Từ mục tiêu có liên quan đến mục đích phải đạt, đích phải thực hiện và kết quả cần thu được. Mục tiêu là lời khẳng định hiệu năng và trách nhiệm. Ở phương diện sư phạm từ mục tiêu có một nghĩa chính xác, bao trùm những lĩnh vực đặc biệt, đóng một vai trò quan trọng, đòi hỏi có một sự hình thành từ từ, có vị trí ưu tiên theo quan điểm DHTT.
Làm rõ những bình diện khác nhau trong mục tiêu học chính là làm sáng tỏ hơn vai trò của người dạy. Mục tiêu học Người dạy phải có khả năng xác định được kết quả của người học sẽ nhận được khi kết thúc việc học. Trước khi người học bắt đầu quá trình học của mình để đi đến thu lượm một tri thức hay một kĩ năng mới. 21 Người dạy cần chỉ ra hiệu năng mà người học cần phải đạt được bằng cách nói trước cái điều mà người học cần phải hoàn thành.