Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHOA HỌC SÁNG TẠO VÀ TÂM LÍ HỌC SÁNG TẠO Dù rằng sáng tạo không phải là địa hạt độc quyền của các nhà Tâm lí học nhưng thực tế cho thấy các nhà Tâm lí học bắt đầu quan tâm nhiều đến sáng tạo từ giữa thế kỉ XX. Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do nhu cầu tăng năng suất lao động xã hội và cũng như muốn dành lợi thế trong chiến tranh lạnh để có thể nắm quyền chỉ huy thế giới nên Mĩ đã ra sức phát huy tài năng sáng tạo của thế hệ trẻ và các lực lượng lao động khác. Chính những nhà quản lí ở đây đã nhận ra rằng tác động vào tâm lí cũng như kích thích tiềm năng của con người là căn cơ quan trọng để phát huy sức lao động sáng tạo.
Từ những năm 50 của thế kỉ XX, các nhà Tâm lí học Mĩ đã nghiên cứu khá cơ bản và hệ thống về năng lực sáng tạo của con người từ tuổi nhỏ đến tuổi trưởng thành. Đặc biệt hơn từ những 1970 - các nhà Tâm lí học Mĩ có rất nhiều nghiên cứu sâu về Tâm lí học sáng tạo, về công cuộc phát triển tài năng sáng tạo của con người. Có thể đề cập sâu đến quyển sách viết về sáng tạo và tư duy sáng tạo của A. Dù không phải là một nhà Tâm lí học nhưng ông đã có những nhìn nhận khá sâu sắc về vấn đề sáng tạo và tâm lí để con người sáng tạo những sản phẩm độc đáo.
Dưới góc nhìn là nhà kinh doanh, ông đã đề cập đến những phương pháp, phương án tập kích não để làm việc tốt, để phát triển sáng tạo. Quyển sách của ông đã tái bản 24 lần với những tiếng vang khi đề cập đến những yếu tố tâm lí của con người liên quan đến hoạt động sáng tạo. Ông nói: "Thành công của ông có được nhờ vào việc ông tìm ra phương pháp, nghĩ ra nhiều phương án khác nhau để hướng đến kết quả sáng tạo". Guilford bắt đầu nghiên cứu có hệ thống về sáng tạo dưới góc nhìn Tâm lí học.Guilford là giáo sư Đại học thuộc miền Nam California.
Lúc ông nhậm chức chủ tịch hội Tâm lí học Mĩ cũng là lúc ông dành một khoảng thời gian thích đáng để nói về sáng tạo trong bài phát biểu của mình. Ông đặt ra nhiều vấn đề xoay quanh thực trạng nghiên cứu về sáng tạo, hoạt động sáng tạo và đề cập thêm về hướng nghiên cứu, thách thức của việc phát triển khả năng sáng tạo, cách thức sáng tạo của con người. Những câu hỏi mà J.Guilford đặt ra cũng chính là những vấn đề trọng tâm mà Tâm lí học sáng tạo phải quan tâm, giải quyết. Có thể phát hiện tiềm năng sáng tạo hay không? Phát triển khả năng ấy bằng cách nào, phát triển đến mức nào?.Cũng từ đây, ông động viên, khuyến khích các nhà Tâm lí học Mĩ nghiên cứu sâu vào lĩnh vực có ý nghĩa này.
Từ đấy, ở Mĩ dấy lên phong trào nghiên cứu về sáng tạo cả về số lượng nhà nghiên cứu - nhóm nghiên cứu cũng như các xu hướng nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, dù cho những nhà Tâm lí học nổi tiếng như Barron, Blam, Wallase, Torrana, Bova. đã tập trung nghiên cứu khá nhiều về sáng tạo nhưng vẫn còn nặng về tính chất mô tả kinh nghiệm chứ không phải là thực nghiệm để rút ra quy luật. Điều mà thực tiễn đòi hỏi là phải tìm ra những quy luật của sáng tạo để có thể lấy đó làm cơ sở điều khiển, phát huy sáng tạo thì gần như các nhà Tâm lí học vẫn chưa giải quyết được.
Tuy nhiên, cũng thông qua những nghiên cứu ở đây những vấn đề của Tâm lí học sáng tạo như bản chất hoạt động sáng tạo, quá trình sáng tạo, đặc điểm sáng tạo và nhân cách sáng tạo. đã được quan tâm cũng trở thành những cứ liệu rất có giá trị. Không những quan tâm đến việc nghiên cứu về sáng tạo cũng như Tâm lí học sáng tạo mà các nhà Tâm lí học thuộc các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu tổ chức nhiều hội thảo khoa học. Từ đó, các hướng nghiên cứu khác nhau về sáng tạo bắt đầu được xuất hiện thông qua các cuộc hội thảo mang tính chất quốc gia - quốc tế như: Hội thảo tại Matxcơva (Liên Xô (cũ) - 1967); Hội thảo tại Praha (Tiệp Khắc (cũ) - 1967); Hội thảo tại Liblice (1972 - Tiệp Khắc (cũ),.
Có thể nhận thấy ở Liên Xô (cũ) đội ngũ các nhà Tâm lí học nghiên cứu về sáng tạo khá đông đảo. Nhắc đến việc nghiên cứu về sáng tạo không thể không kể đến O. với các hướng nghiên cứu chủ yếu sau: * Hướng 1: So sánh cách giải quyết vấn đề của con người và máy để nhận ra được khả năng sáng tạo của con người. Khả năng sáng tạo của con người ngoài những gì có sẵn trong chương trình.
Các nhà nghiên cứu theo hướng này tập trung so sánh về khả năng và cách thức giải quyết vấn đề của con người và người máy (robot). Nếu như robot xét cụ thể trong từng trường hợp có thể làm việc hơn người (đặc biệt về sự tinh vi, nặng nhọc trong công việc) nhưng suy cho cùng robot cũng chỉ làm những chương trình có sẵn do con người sắp xếp, cài đặt. Trong khi đó, con người luôn luôn tìm tòi, khám phá để giải quyết vấn đề bằng cách và con đường riêng của mình. Điều này cũng dẫn đến một suy luận hiển nhiên là người máy (hay bất kì loại máy móc tinh vi) cũng không làm được những gì không thuộc chương trình cài đặt.
Chính Pônôvariôp đã nhấn mạnh: "Trong tư duy sáng tạo, chủ thể thu được những hiểu biết mới và áp dụng những phương pháp mới vào hoạt động của mình. Kết quả tư duy cho ra những hiểu biết mới và áp dụng thực hiện vào trong thực tiễn". * Hướng 2: Nghiên cứu vấn đề của hoạt động khoa học, tư duy khoa học và tìm ra những đặc thù của hoạt động phát hiện của các nhà khoa học trong đó có hoạt động sáng tạo. * Hướng 3: Tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất của hoạt động sáng tạo.
* Hướng 4: Nghiên cứu và phân tích tầm quan trọng của sáng tạo và quan hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức của con người. * Hướng 5: Tập trung nghiên cứu và nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo của con người. Nhiều nhà nghiên cứu theo hướng này như X.Vưgôtxki khẳng định rằng trong hoạt động sáng tạo thì tưởng tượng là thành phần không thể thiếu được và tưởng tượng dường như rất khó tách bạch với tư duy. * Hướng 6: Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thực hành cũng như lí luận của tư duy sáng tạo và tìm hiểu mối quan hệ của sáng tạo và hoạt động vô thức.
* Hướng 7: Tập trung nghiên cứu về hoạt động sáng tạo của học sinh trong nhà trường, biện pháp phát triển sáng tạo cho học sinh,. Có thể nhận thấy rằng, việc nghiên cứu về sáng tạo và Tâm lí học sáng tạo ở Liên Xô (cũ) có những bước tiến, đặc biệt là hướng nghiên cứu rất phong phú và đa dạng. Việc nghiên cứu này đã đặt cơ s ở chung về lí luận cũng như phương pháp nghiên cứu về vấn đề sáng tạo - Tâm lí học sáng tạo trở nên quen thuộc nhưng cũng thật hấp dẫn. Trong suốt từ năm 1925 đến năm 1980, việc nghiên cứu này có những bước thăng trầm.
Xem xét tiến triển của việc nghiên cứu cho thấy có những giai đoạn Tâm lí học sáng tạo trở thành một mối quan tâm đặc biệt (1925 - 1929); (1960 - 1980), cũng có giai đoạn Tâm lí học sáng tạo gần như không được quan tâm nghiên cứu (1935 - 1945). Chắc chắn sự thăng trầm hay biến đổi này phụ thuộc khá nhiều vào tính thời cuộc cũng như bị ảnh hưởng ít nhiều vào những mấu chốt nghiên cứu hoặc sự "tranh cãi" quá lớn đến mức "chơi vơi" về luận điểm và phương pháp nghiên cứu. Không chỉ ở Liên Xô (cũ) mà cả Tiệp Khắc (cũ), vấn đề sáng tạo được các nhà Tâm lí học bắt đầu quan tâm từ những năm 1955 - 1960. Các vấn đề tâm lí trong hoạt động sáng tạo được nhiều nhà Tâm lí học ở Tiệp Khắc tìm hiểu như cơ chế sáng tạo, làm việc sáng tạo,.
Cụ thể như J.Lasva nghiên cứu về hoạt động sáng tạo, cách làm việc với nhóm sáng tạo; Tác giả Lanđa nghiên cứu về sự khiếp sợ với hoạt động sáng tạo và chỉ ra những yếu tố tâm lí cản trở sự sáng tạo; A.Vôitrô nghiên cứu bằng cách tập hợp các chương trình sáng tạo để kích thích sáng tạo của con người,. Những nghiên cứu này khẳng định rằng nếu những nhà sư phạm xây dựng những chương trình sáng tạo, các biện pháp tác động một cách tích cực thì có thể kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh. Nhiệm vụ kích thích tiềm năng sáng tạo là nhiệm vụ quan trọng của các nhà Tâm lí học, Giáo dục học,. Ngoài ra có thể kể đến tác giả J.Linhart đã đặt cơ sở chung cho việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn về hoạt động sáng tạo.
Ở đây, các yếu tố tâm lí cơ bản chi phối hoạt động sáng tạo được phân tích khá rõ nét.Pôpperôva - Jurcôva có nhiều đóng góp thực sự có giá trị với Tâm lí học sáng tạo ngày nay. Bà nghiên cứu những vấn đề thuộc về năng lực sáng tạo của con người, ảnh hưởng của môi trường, giáo dục đến hoạt động sáng tạo. Bên cạnh đó, bà còn tìm hiểu mối quan hệ giữa trí thông minh với tư duy sáng tạo. Bà chỉ ra rằng, việc nghiên cứu những vấn đề về sáng tạo, Tâm lí học sáng tạo nên xuất phát từ vị trí của hoạt động sáng tạo trong sự phát triển nhân cách, vị trí của năng lực sáng tạo trong toàn bộ cấu trúc nhân cách chứ không xuất phát từ bản thân Tâm lí học sáng tạo đơn thuần.
Không thể không đề cập đến những nghiên cứu chuyên sâu về sự sáng tạo trong tâm lí trẻ em hay sáng tạo của trẻ em trước tuổi đến trường. Có thể nhận thấy sự quan tâm của các tác giả sau: L. Các tác giả đều quan tâm đến hoạt động tâm lí của trẻ em trong những biểu hiện sáng tạo của mình. Trong hoạt động của trẻ luôn có yếu tố sáng tạo.
Nếu xem xét hoạt động sáng tạo một cách nghiêm ngặt thì hoạt động của trẻ không phải là hoạt động sáng tạo vì cái mới chưa thật sự là cái mới và chưa mang ý nghĩa xã hội nhưng chính cái mới của trẻ lại mang dấu ấn sáng tạo đặc biệt.