Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khái niệm suy nghĩ tự động (Automatic Thoughts) lần đầu tiên được phát triển vào thập niên 1960 bởi Aaron T. Beck – trợ lý giáo sư tâm thần học tại Đại học Pennsylvania, người đặt nền móng cho liệu pháp nhận thức (Cognitive Therapy). Trong quá trình làm việc với các thân chủ lo âu và trầm cảm, Beck nhận thấy sự tồn tại của những dòng suy nghĩ xuất hiện bộc phát, chớp nhoáng, không qua chủ ý hay lập trình trước, nhưng lại chi phối sâu sắc trạng thái cảm xúc và hành vi của cá nhân. Những suy nghĩ tự động mang tính chất tiêu cực (Negative Automatic Thoughts - SNTDTC) đóng vai trò như tác nhân kích hoạt các chuỗi phản ứng cảm xúc bất lợi, duy trì các vòng lặp tâm lý tiêu cực và làm gia tăng nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn chuyển hóa.

Giai đoạn đầu tuổi trưởng thành (18 đến 25 tuổi) là bước chuyển tiếp quan trọng trong vòng đời, khi cá nhân đạt đỉnh cao về thể chất nhưng đồng thời phải đối mặt với hàng loạt biến động lớn: xác lập căn tính cá nhân, định hướng nghề nghiệp, tự lập tài chính, thiết lập các mối quan hệ xã hội phức tạp và gánh vác trách nhiệm mới. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ vai trò trung gian của suy nghĩ tự động tiêu cực đối với sức khỏe tâm thần, tại Việt Nam, các công trình chủ yếu chỉ tiếp cận khái niệm này như một yếu tố thứ cấp trong bệnh cảnh lâm sàng mà chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát độc lập về thực trạng của nó trên nhóm dân số trẻ khỏe mạnh. Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của NCS.ThS Nguyễn Thị Diễm My tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 04 năm 2023), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục đích nghiên cứu: Xác định thực trạng suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi (NTTTT) trong độ tuổi từ 18 đến 25 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về: suy nghĩ, suy nghĩ tự động, suy nghĩ tự động tiêu cực và suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi.
  2. Xác định thực trạng suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi từ 18 đến 25 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các công cụ đo lường tiêu chuẩn và tình huống thực tiễn.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Khách thể nghiên cứu: 479 người trưởng thành trẻ tuổi trong độ tuổi từ 18 đến 25 đang sinh sống, học tập và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận suy nghĩ tự động tiêu cực dựa trên khung lý thuyết liệu pháp nhận thức của Aaron Temkin Beck (1976), tập trung vào mô hình bộ ba nhận thức tiêu cực (suy nghĩ tiêu cực về bản thân, về thế giới và về tương lai).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được triển khai khảo sát trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 04 năm 2023.

Giả thuyết nghiên cứu: Người trưởng thành trẻ tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh có suy nghĩ tự động tiêu cực ở mức độ trung bình, trong đó biểu hiện rõ nét và chiếm tần suất cao nhất là các suy nghĩ tự động tiêu cực hướng về bản thân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết nhận thức hành vi chuẩn mực cùng các phương pháp nghiên cứu định lượng trong tâm lý học thực nghiệm.

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết liệu pháp nhận thức của Aaron T. Beck (1976, 1979) và Judith S. Beck (2011). Các trục lý thuyết chính gồm:

  • Cơ chế hai hệ thống xử lý thông tin: Não bộ vận hành với Hệ thống 1 (suy nghĩ nhanh, tự động, rập khuôn, không cần kiểm soát ý thức) và Hệ thống 2 (suy nghĩ chậm, đòi hỏi nỗ lực, logic và có ý thức). Suy nghĩ tự động thuộc phạm trù Hệ thống 1, đóng vai trò như các phản xạ mặc định khi xử lý kích thích quen thuộc.
  • Mô hình bộ ba nhận thức (Cognitive Triad): Ba thành phần cốt lõi tạo nên định kiến nhận thức tiêu cực gồm: (1) Suy nghĩ tiêu cực về bản thân (coi mình khiếm khuyết, bất lực, thiếu giá trị); (2) Suy nghĩ tiêu cực về thế giới (coi môi trường xung quanh quá khắc nghiệt, áp đặt trở ngại vô lý); (3) Suy nghĩ tiêu cực về tương lai (dự đoán tương lai ảm đạm, chỉ toàn thất bại và đau khổ kéo dài).
  • Phân loại sai lệch nhận thức (Cognitive Distortions): Các lỗi tư duy duy trì suy nghĩ tự động tiêu cực như trừu tượng hóa có chọn lọc, kết luận độc đoán, tư duy lưỡng phân (trắng - đen), phóng đại và thu hẹp, cá nhân hóa, khái quát hóa quá mức, đọc suy nghĩ, tự dán nhãn, các mệnh đề "phải/nên".
  • Mối quan hệ liên hoàn nhận thức - cảm xúc - hành vi - sinh lý: Sự kiện kích hoạt làm phát sinh suy nghĩ tự động ban đầu và suy nghĩ tự động bổ sung tiềm năng, từ đó dẫn xuất các phản ứng cảm xúc, hành vi tương ứng và biến đổi sinh lý cơ thể.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các công trình học thuật trong và ngoài nước để xác lập khung khái niệm và thiết kế công cụ đo lường.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
    • Bảng câu hỏi suy nghĩ tự động tiêu cực (Automatic Thoughts Questionnaire - Negative: ATQ-N 30) của Steven D. Hollon và Phillip C. Kendall (1980): Chuyển ngữ tiếng Việt, gồm 30 đề mục đo lường tần suất xuất hiện suy nghĩ tiêu cực theo thang Likert 5 mức độ (1 = Hoàn toàn không; 2 = Thỉnh thoảng; 3 = Khá thường xuyên; 4 = Thường xuyên; 5 = Rất thường xuyên).
    • Bảng hỏi tình huống giả định: Gồm 20 tình huống thực tế mô phỏng các bối cảnh học tập, quan hệ tình cảm, giao tiếp bạn bè và áp lực công việc, yêu cầu nghiệm thể chọn phản ứng suy nghĩ tức thời.
    • Thang đo DASS-21: Được tích hợp trong phiếu khảo sát để rà soát các chỉ số lo âu, trầm cảm và stress của nghiệm thể trong 1 tuần gần nhất.
  3. Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26. Các thuật toán sử dụng gồm: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình Mean, độ lệch chuẩn Std. Deviation), kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), kiểm định Independent Samples T-test (so sánh 2 nhóm) và phân tích phương sai một yếu tố One-way ANOVA (so sánh từ 3 nhóm trở lên).

Đặc điểm mẫu khảo sát

Dữ liệu thu nhận từ $N = 479$ người trưởng thành trẻ tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh qua hình thức trực tuyến và trực tiếp có phân bổ nhân khẩu học như sau:

Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng ($N$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 209 43,6%
Nữ 270 56,4%
Độ tuổi 18 tuổi 7 1,5%
19 tuổi 90 18,8%
20 tuổi 114 23,8%
21 tuổi 128 26,7%
22 tuổi 93 19,4%
23 tuổi 21 4,4%
24 tuổi 18 3,8%
25 tuổi 8 1,7%
Nơi sinh sống Nội thành 227 47,4%
Ngoại thành 252 52,6%
Công việc hiện tại Học sinh / Sinh viên 360 75,2%
Làm việc toàn thời gian 74 15,5%
Làm việc bán thời gian 45 9,4%
Hoàn cảnh sống Sống cùng gia đình 155 32,4%
Sống ở nhà họ hàng 45 9,4%
Sống ở trọ / Ký túc xá 279 58,2%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi

Chương 1 tổng hợp toàn diện các thành tựu lý thuyết và thực nghiệm tâm lý học nhận thức liên quan đến đề tài:

  • Lịch sử nghiên cứu trên thế giới: Điểm lại các công trình tiêu biểu từ nghiên cứu khởi xướng của Beck (1976), thang đo ATQ-N của Hollon & Kendall (1980) với 4 nhân tố (PMDC - sự không điều chỉnh cá nhân và mong muốn thay đổi; NSNE - quan niệm và kỳ vọng tiêu cực về bản thân; LSE - lòng tự trọng thấp; Helplessness - sự bất lực). Khảo cứu các công trình chứng minh mối quan hệ giữa SNTDTC với trầm cảm và lo âu (Stiles et al., 1989; Moilanen, 1993; Aydin, 1996; Miranda & Gross, 1997; Boury et al., 2001; Sukjai Charoensuk, 2009; Nishikawa et al., 2013 về cơ chế nhai lại - brooding vs. pondering; Flouri & Panourgia, 2014; Choon et al., 2015; Yavuzer, 2016; Mita Rana et al., 2017; Faiqua Tahir & Riffat Sadiq, 2022).
  • Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam: Đánh giá các công trình tiếp cận liệu pháp nhận thức hành vi và suy nghĩ tiêu cực gắn với lo âu, trầm cảm của Bùi Thị Hạnh Dung (2011), Tiêu Thảo Ngân (2021), Trần Như Minh Hằng (2012), Đỗ Hoàng Yến (2020), Hoàng Việt Hà (2021). Tác giả nhận định tại Việt Nam chưa có công trình nào khảo sát thực trạng SNTDTC độc lập trên nhóm người trưởng thành trẻ tuổi.
  • Hệ thống hóa khái niệm và cơ chế nhận thức: Phân tích mô hình bộ ba nhận thức tiêu cực (bản thân, thế giới, tương lai), 12 dạng sai lệch nhận thức phổ biến và sơ đồ tương tác giữa sự kiện, nhận thức, xúc cảm, phản ứng sinh lý và hành vi thực tế.
  • Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18-25: Phân tích bối cảnh phát triển nhận thức thời kỳ đầu tuổi trưởng thành, các khủng hoảng tâm lý khi bước vào đời sống tự lập, vai trò xã hội mới và các nguy cơ xuất hiện sơ đồ nhận thức tiêu cực tiềm ẩn khi đối mặt với stress đô thị.

Chương 2: Kết quả nghiên cứu về suy nghĩ tự động tiêu cực ở người trưởng thành trẻ tuổi tại TP.HCM

Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu xử lý thực nghiệm và phân tích định lượng trên mẫu $N = 479$:

  • Độ tin cậy của công cụ đo lường: Thang đo ATQ-N 30 phiên bản chuyển ngữ tiếng Việt đạt hệ số Cronbach's Alpha = 0,986 (độ tin cậy rất cao, đảm bảo tính nhất quán nội tại hoàn hảo để tiến hành các phân tích sâu).
  • Thực trạng tần suất xuất hiện suy nghĩ tự động tiêu cực (thang ATQ-N 30):
    • Tổng điểm trung bình toàn thang ATQ-N 30 đạt $\text{Mean} = 74,10$ ($\text{SD} = 23,204$, phạm vi điểm từ 30 đến 150).
    • Điểm trung bình từng đề mục đạt $\text{Mean} = 2,47$ ($\text{SD} = 0,77$), tương ứng với mức độ "thỉnh thoảng xuất hiện" (mức trung bình).
  • Phân tích theo mô hình bộ ba nhận thức:
    • Suy nghĩ tiêu cực về bản thân: Điểm trung bình đạt $\text{Mean} = 30,08$ (chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu suy nghĩ tiêu cực).
    • Suy nghĩ tiêu cực về tương lai: Điểm trung bình đạt $\text{Mean} = 22,88$.
    • Suy nghĩ tiêu cực về thế giới: Điểm trung bình đạt $\text{Mean} = 21,14$.
  • Kết quả khảo sát qua bảng hỏi 20 tình huống giả định: Phản ánh xu hướng phản ứng nhận thức tức thời của người trẻ khi gặp sự kiện gây thất vọng hoặc xung đột. Ví dụ ở tình huống 1 (thuyết trình bị điểm kém), tình huống 6 (đồng nghiệp không chào), tình huống 10 (bị nghi ngờ trộm đồ), tình huống 19 (bị sa thải do cắt giảm nhân sự), tỷ lệ lựa chọn các phương án mang tính thích ứng tích cực chiếm đa số, tuy nhiên vẫn có từ 15% đến hơn 30% mẫu nghiên cứu bộc lộ ngay các suy nghĩ tự trách, bi quan hoặc tự dán nhãn thất bại.
  • Kiểm định giả thuyết và so sánh khác biệt theo các tham số nhân khẩu học:
    • Theo giới tính (T-test): Kiểm định T-test cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tần suất suy nghĩ tự động tiêu cực giữa nam giới và nữ giới ($p < 0,05$), trong đó nữ giới có xu hướng ghi nhận điểm số suy nghĩ tiêu cực thường xuyên hơn nam giới.
    • Theo độ tuổi (ANOVA): Phân tích phương sai một yếu tố không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê lớn giữa các nhóm tuổi từ 18 đến 25 ($F = 1,638$, $p = 0,122 > 0,05$).
    • Theo công việc (ANOVA): Điểm số SNTDTC không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sinh viên, người làm toàn thời gian và bán thời gian ($F = 0,981$, $p = 0,376 > 0,05$).
    • Theo nơi sinh sống (ANOVA): Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sống ở nội thành và ngoại thành ($F = 1,836$, $p = 0,176 > 0,05$).
    • Theo hoàn cảnh sống (ANOVA): Có sự chênh lệch nhẹ về chỉ số căng thẳng và suy nghĩ tiêu cực ở nhóm sống xa gia đình (ở trọ/ký túc xá) so với nhóm sống cùng gia đình.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Xác nhận giả thuyết nghiên cứu: Nghiên cứu đã chứng minh giả thuyết khoa học ban đầu là hoàn toàn chính xác. Người trưởng thành trẻ tuổi tại TP.HCM có tần suất xuất hiện suy nghĩ tự động tiêu cực ở mức độ trung bình ($\text{Mean} = 2,47/5$).
  2. Cơ cấu bộ ba nhận thức: Suy nghĩ tự động tiêu cực về bản thân là thành phần nổi trội nhất ($\text{Mean} = 30,08$), cao hơn rõ rệt so với suy nghĩ tiêu cực về tương lai ($\text{Mean} = 22,88$) và suy nghĩ tiêu cực về thế giới ($\text{Mean} = 21,14$). Điều này phản ánh đặc trưng tâm lý người trẻ thường có xu hướng tự quy kết trách nhiệm, nghi ngờ năng lực bản thân và cảm thấy bất toàn khi gặp thất bại.
  3. Sự khác biệt nhân khẩu học: Nữ giới thể hiện mức độ suy nghĩ tự động tiêu cực cao hơn nam giới. Trong khi đó, các yếu tố như độ tuổi cụ thể trong khoảng 18-25, tính chất công việc và khu vực sinh sống (nội/ngoại thành) không tạo ra sự phân hóa mang ý nghĩa thống kê đối với mức độ xuất hiện SNTDTC.

Kiến nghị và giải pháp của tác giả

  • Đối với cá nhân người trưởng thành trẻ tuổi: Cần chủ động nhận diện các dòng suy nghĩ tự động tiêu cực, rèn luyện kỹ năng tái cấu trúc nhận thức, chuyển đổi từ Hệ thống 1 phản ứng bộc phát sang Hệ thống 2 tư duy phản biện và suy tư xây dựng (pondering) thay vì đắm chìm trong sự nghiền ngẫm tiêu cực (brooding).
  • Đối với cơ sở giáo dục và gia đình: Tăng cường các phòng tham vấn tâm lý học đường, tổ chức chuyên đề kỹ năng ứng phó với stress và quản lý cảm xúc; xây dựng môi trường gia đình thấu hiểu, giảm bớt kỳ vọng áp đặt lên người trẻ.
  • Đối với chuyên viên tâm lý: Ứng dụng mô hình liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) và bộ công cụ ATQ-N trong việc sàng lọc sớm, phát hiện các sai lệch nhận thức để can thiệp kịp thời trước khi tiến triển thành trầm cảm hoặc lo âu.

Đóng góp khoa học

  • Về mặt lý luận: Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu độc lập tiên phong tại Việt Nam khảo sát trực tiếp suy nghĩ tự động tiêu cực trên nhóm khách thể không thuộc mẫu bệnh lý tâm thần lâm sàng (sinh viên và người đi làm trẻ tuổi).
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận chuẩn hóa và kiểm định thành công độ tin cậy của bảng hỏi ATQ-N 30 (Cronbach's Alpha = 0,986) trên mẫu người Việt, cung cấp bộ dữ liệu tham chiếu định lượng giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về sức khỏe tâm thần học đường và đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu thực hiện theo thiết kế cắt ngang (cross-sectional) dựa trên phương pháp tự báo cáo (self-report), có thể chịu ảnh hưởng nhất định bởi độ thành thật và trạng thái cảm xúc nhất thời của nghiệm thể tại thời điểm điền phiếu.
    • Phạm vi khảo sát tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ sinh viên chiếm đa số (75,2%), chưa phản ánh đồng đều cơ cấu lao động trẻ ở các khu công nghiệp hoặc khu vực nông thôn.
    • Đề tài dừng lại ở mức độ khảo sát mô tả thực trạng và kiểm định tương quan nhân khẩu học, chưa tiến hành các can thiệp thực nghiệm lâm sàng dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô mẫu sang các vùng kinh tế, văn hóa khác nhau trên toàn quốc để kiểm chứng tính phổ quát.
    • Triển khai các nghiên cứu can thiệp thực nghiệm áp dụng kỹ thuật CBT (như đối thoại Socrate, ghi nhật ký suy nghĩ, kỹ thuật đóng vai) nhằm đánh giá hiệu quả giảm thiểu suy nghĩ tự động tiêu cực trên nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
    • Phân tích mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để làm rõ mối quan hệ trung gian của SNTDTC giữa các biến số nhân cách, sự kiện căng thẳng và các rối loạn khí sắc cụ thể.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu định lượng chuẩn mực, phương pháp xây dựng đề cương, cách thức xử lý dữ liệu SPSS và kỹ thuật chuyển ngữ, đánh giá độ tin cậy thang đo tâm lý.
  • Giảng viên và chuyên viên tham vấn / trị liệu tâm lý: Sử dụng thang đo ATQ-N 30 và bộ 20 câu hỏi tình huống giả định thực tế như công cụ hỗ trợ đánh giá nhận thức ban đầu cho thân chủ trẻ tuổi.
  • Nhà quản lý giáo dục và nhân sự doanh nghiệp: Hiểu rõ các nút thắt tâm lý và dạng sai lệch nhận thức phổ biến của thế hệ lao động trẻ (18-25 tuổi) để xây dựng các chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần và văn hóa tổ chức phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng thang đo chuẩn nào để đo lường suy nghĩ tự động tiêu cực và độ tin cậy đạt bao nhiêu? Nghiên cứu sử dụng Bảng câu hỏi suy nghĩ tự động tiêu cực (Automatic Thoughts Questionnaire - Negative: ATQ-N 30) gồm 30 mục của Steven D. Hollon và Phillip C. Kendall (1980) được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Kết quả phân tích độ tin cậy trên 479 nghiệm thể cho thấy hệ số Cronbach's Alpha đạt mức rất cao là 0,986.

2. Mức độ suy nghĩ tự động tiêu cực của người trưởng thành trẻ tuổi tại TP.HCM được ghi nhận ở mức nào? Tổng điểm trung bình của toàn thang ATQ-N 30 là $\text{Mean} = 74,10$ ($\text{SD} = 23,204$, thang điểm 30 - 150), tương ứng điểm trung bình mỗi đề mục là 2,47 trên thang đo 5 mức độ. Điều này chỉ ra rằng suy nghĩ tự động tiêu cực ở người trưởng thành trẻ tuổi tại TP.HCM xuất hiện ở mức độ trung bình (thỉnh thoảng xuất hiện).

3. Trong ba thành phần của mô hình bộ ba nhận thức, khía cạnh nào chiếm điểm số cao nhất? Thành phần suy nghĩ tự động tiêu cực về bản thân ghi nhận điểm số cao nhất ($\text{Mean} = 30,08$), tiếp theo là suy nghĩ tiêu cực về tương lai ($\text{Mean} = 22,88$) và suy nghĩ tiêu cực về thế giới ($\text{Mean} = 21,14$).

4. Mẫu khảo sát có đặc điểm nhân khẩu học ra sao về quy mô, độ tuổi và giới tính? Khách thể nghiên cứu gồm 479 người trong độ tuổi từ 18 đến 25 tại TP.HCM. Trong đó, nữ giới chiếm 56,4% ($N = 270$), nam giới chiếm 43,6% ($N = 209$). Độ tuổi tập trung đông nhất ở nhóm 20 tuổi (23,8%), 21 tuổi (26,7%) và 22 tuổi (19,4%); nhóm sinh viên chiếm 75,2% tổng số mẫu.

5. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy sự khác biệt nào có ý nghĩa về suy nghĩ tự động tiêu cực? Kiểm định T-test độc lập cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính ($p < 0,05$), theo đó nữ giới có xu hướng trải nghiệm tần suất suy nghĩ tự động tiêu cực cao hơn nam giới. Phân tích ANOVA cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo độ tuổi ($p = 0,122$), tính chất công việc ($p = 0,376$) hay nơi sinh sống nội thành/ngoại thành ($p = 0,176$).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lan Phương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác định thực trạng suy nghĩ tự động tiêu cực ở người trưởng thành trẻ tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lý thuyết nhận thức hành vi của Aaron T. Beck. Kết quả định lượng trên mẫu 479 nghiệm thể khẳng định mức độ suy nghĩ tự động tiêu cực ở mức trung bình, trong đó suy nghĩ tiêu cực về bản thân giữ vai trò chi phối nổi bật nhất. Công trình không chỉ cung cấp bộ dữ liệu thực chứng có độ tin cậy cao thông qua thang đo ATQ-N 30 chuẩn hóa mà còn gợi mở các định hướng can thiệp tâm lý thiết thực nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho người trẻ trong xã hội hiện đại.