Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VA THUC TIEN LIEN QUAN DEN DE TAI NGHIEN CUU 1. Co sở lý luận trong việc giáo dục và dao tao tăng tai của Hoc viện Phật giáo Nam tông Khmer 1. Giáo lý Phật giáo về giáo dục Phật giáo và đào tạo tăng tài - Khái niệm về giáo duc va dao tạo Theo Từ Điển Tiếng Việt [31] “Giáo dục” được định nghĩa là: 1) (động từ): Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh than, thé chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dan dan có được những phẩm chat và năng lực như yêu cau dé ra. Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của một nước.
“Đào tạo” được định nghĩa là: Làm cho trở thành người có năng lực; có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định. Ở Việt Nam, ké từ khi thực hiện công cuộc đôi mới đất nước (1986) đến nay, đặc biệt trong thời kỳ đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, “Giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đây sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện đề phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản dé phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [8]. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bồ sung và phát triển năm 2011) - một văn bản chiến lược hàng đầu, hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, khẳng định: Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam [2]. - Khái niệm về giáo dục Phật giáo và đào tạo tăng tài Giáo dục Phật giáo là điều kiện, phương tiện thiết yếu để “khai hoá”, “chuyển hoá” chúng sinh thoát khỏi sự vô minh.
Dé làm cho chúng sanh giác ngộ chân lý giải thoát của đạo Phật thì phải làm cho chúng sanh hiểu rõ sự khổ, nguyên nhân của sự khô, cách diệt khổ và thực hành con đường đi đến giải thoát [25]. Vì vậy, ngay sau khi giác ngộ (chứng quả vị Phật), Đức Phật Thích ca Mâu Ni liền có bài thuyết giảng đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như tại Lộc Uyên (Sarnath - Vườn Nai) với câu nói: “Này các vị, hãy lắng nghe, Pháp bất tử đã được phát hiện; ta sẽ chỉ dẫn và giảng dạy Pháp ấy”. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo là để mọi người hiểu được kinh Phật, hướng dẫn thực hành những lời day của Đức Phật dé thoát khỏi sự vô minh (luật, luận), trở thành con người tự do, không bị ràng buộc, không bị vướng mắc bởi “Ngã”; có đạo đức và trí tuệ khi giải quyết các mối quan hệ trong đời sống xã hội. Phật giáo lay hệ thống Kinh - Luật - Luận (Tam Tạng kinh điển) làm nền tảng nội dung của giáo dục.
Người học Phật lay trí tuệ làm sự nghiệp (Duy Tuệ Thị Nghiệp). Lay Văn - Tư - Tu (Học, tiếp nhận kiến thức - Suy nghĩ về những điều đã học - Thực hành những điều đã học trong đời sống) làm phương pháp thực hiện học đi đôi với hành. Dé ánh sáng giác ngộ được truyền đi khắp nơi, góp phần giáo hoa chúng sanh thì phải có đội ngũ những người đi hoằng dương chánh pháp. Ngay từ khi hình thành Tăng đoàn (là những người xuất gia theo Phật sống đời sông tập trung), Đức Phật đã dạy các đệ tử của Ngài rằng: “Các con hãy vì lòng từ bi rộng lớn đi gieo rắc hạnh phúc cho đời.
Đừng đi trùng nhau trên một ngã đường. Các con hãy truyền đạo mau nhiệm cho đời hiểu thé nào là cuộc sống cao cả, trong sạch hoàn toàn và gương mẫu. Hãy hoằng dương giáo pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo trong phần khai triển, và toàn hảo ở đoạn cuối, toản hảo trong cả hai, tinh thần va văn tự. Muốn có những người thực hiện 10 nhiệm vụ hoằng dương đạo pháp thì phải thực hiện công tác đào tạo nguồn nhân lực của Phật giáo.
Do đó, đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng của Phật giáo dé có lực lượng thực hành hoăng dương chánh pháp. Ngày nay, trong quá trình phát triển ra khắp thế giới, Phật giáo đã và đang hình thành nhiều hệ phái khác nhau nhưng giáo dục Phật giáo và đào tạo nguồn nhân lực (tăng, ni) là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các tô chức, truyền thống Phật giáo ở các nước cũng như ở Việt Nam dé phục vụ sứ mệnh hoằng dương chánh pháp. Giáo dục Phật giáo, đào tạo tăng tài của Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam - Trong thời gian đầu, khi Đức Phật còn tại thế, những lời dạy, nội dung thuyết pháp được trao truyền trực tiếp từ Đức Phật đến các đệ tử của mình, chưa viết thành sách. Phương thức giáo dục Phật giáo ở thời kỳ này là “Truyền khẩu”.
Giáo lý, giáo luật và những chú giải được trao truyền trực tiếp từ Đức Phật đến đệ tử của mình. Các đệ tử đọc tụng hăng ngày những nội dung ấy dé nhớ, suy nghĩ và thực hiện. Để lưu giữ những lời Phật dạy, sau gần 400 năm kể từ khi Đức Phat nhập Niết bàn, các đệ tử của Ngài đã tổ chức 3 kỳ Kết tập Tam Tạng bang phương thức “khâu truyền” (chỉ thuyết giảng nội dung và chú giải bằng lời nói, tụng đọc đề ghi nhớ, không có ghi chép, không viết thành sách). Trong kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ tư, bộ Tam Tạng và chú giải được viết thành văn trên lá buông.
Từ đây, giáo dục dao tạo của Phat giáo được thực hiện với nhiều phương thức, hình thức phong phú hơn: Trao truyền trực tiếp từ vị sư phụ, mở lớp, trường Phật học và đào tạo tăng tải. Cũng sau khi Đức Phật nhập Niết bàn khoảng 100 năm, Phật giáo phân chia thành các hệ phái khác nhau với căn bản là hai hệ phái: Bắc tông (Bắc truyền) và Nam tông (Nam truyền - Nguyên thuỷ - Therevada). Quan niệm 11 giáo lý và phương thức hành đạo của hai hệ phái này có những khác biệt nhưng vẫn có những điểm giống nhau cơ bản: Đều nhìn nhận Đức Phật Thích Ca Mau Ni là bậc Dao sư; Đều thừa nhận về Vô thường, Vô ngã, Khổ, lý thuyết Duyên khởi, Thập nhị nhân duyên và thực hành Tứ diệu dé (hay còn gọi là Tứ thánh dé), Bát chánh đạo; phương thức tu tập là Giới - Định - Tuệ. Không thừa nhận có đẳng tối cao sáng tạo ra và thong tri thé gidi ma moi sự vật, hiện tượng trên thé gian nay đều phải chịu chi phối bởi quy luật (Luân hoi): Thành - Trụ - Hoại - Không (Vũ tru quan) và Sinh - Lão - Bệnh - Tử (Nhân sinh quan) Về hình thức giáo dục, đào tạo cũng có sự khác biệt giữa truyền thống Bắc tông và truyền thống Nam tông.
Đối với Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam, từ khi vận động phong trào Chấn hưng Phật giáo vào đầu thế kỷ XX cho đến nay, cùng với sự ra đời các Hội nghiên cứu Phật học của Hệ phái Bắc tông ở cả 3 kỳ: Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ, nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo Phật giáo tập trung của Bắc tông được thành lập với các cấp học gồm: Giáo dục Phật học phổ cập; Giáo dục Phật học Sơ cấp; Giáo dục Phật học Trung cấp; Giáo dục Phật học đại học và sau đại học. - Hệ thống giáo dục và đảo tạo của Phật giáo Nam tông Khmer có sự khác biệt hơn, gồm: Hệ Giáo duc Phật học tại các chùa: Do vị bổn su truyền dạy Phật pháp căn bản và dạy tiếng Pali, dạy Khmer ngữ cho tăng sinh và phật tử người Khmer, thời gian đào tạo khoảng 9 năm. Hệ thống đào tạo tại các trường Phật học dành cho tăng sinh Khmer gồm: Các lớp Sơ cấp, Trung cấp Pali Vini; Trường Bồ túc Văn hoá Pali Trung cấp Nam Bộ (tại tỉnh Sóc Trăng) và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer (tại Cần Tho). Do tính chất đặc thù về mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, Phật giáo Nam tông Khmer gắn chặt với đời sống văn hoá, tinh thần cũng như mọi sinh 12 hoạt của đồng bào dân tộc Khmer, nên nội dung giáo dục, đảo tạo tại các chùa của Phật giáo Nam Tông Khmer mang tính toàn diện, vừa giáo dục những nội dung cơ bản của Tam Tạng kinh, vừa giáo dục việc tô chức cuộc sống, đạo đức, văn hoá truyền thống của người Khmer.
Theo tập quán truyền thống của người Khmer, người con trai trong mỗi gia đình khi lớn lên sẽ được gia đình gởi vào chùa tu học (Tu báo hiếu). Tại đây họ sẽ được học tiếng Pali, chữ Khmer (tiếng mẹ đẻ), giáo lý, học nghé.va rèn luyện ban thân dé thành người có tri thức, đạo đức, xứng danh với gia đình và xã hội. Thời gian tu học tại chùa không bắt buộc dài hoặc ngắn. Sau một thời gian tu báo hiếu, những người có đủ điều kiện tu tiếp thì trở thành vị Tăng tài của hệ phái.
Những người không đủ duyên tu tiếp thì trở về gia đình với những hành trang đã được trang bị trong quá trình tu học để hoa nhập vào đời sống xã hội đã hội, có đủ những tiêu chí về văn hoá, đạo đức. Đề trở thành một vị Tăng tài của Phật giáo Nam tông Khmer thì điều kiện cần và đủ là phải có trình độ Phật học, Khmer ngữ, tiếng Pali từ trung cấp trở lên. Đồng thời, vị tăng đó phải am hiểu về văn hóa dân tộc Khmer, thông thạo các bài kinh tụng. Đó là một trong những yêu cầu và thách thức không nhỏ cho bất kỳ vị tu sĩ của Phật giáo Nam tông Khmer nào cũng như trách nhiệm, hoạt động giáo dục, đào tạo của Phật giáo Nam tông Khmer.
Đi tu đối với người Khmer vừa là một trách nhiệm xã hội, vừa là một niềm vinh dự của gia đình; là một trong những tiêu chuẩn đánh giá về chuẩn mực văn hoá, đạo đức và người có ích cho xã hội của người thanh niên Khmer. Không ít người trong số họ trở thành cán bộ, công chức Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thê chính trị, xã hội ở các cấp. Do đó, có thê nói răng, giáo dục, đào tạo của Phật giáo Nam tông Khmer vừa là 13 nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho Giáo hội, vừa góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với Phật giáo Nam tông Khmer 1.