Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác tư tưởng (mã số 9310201) của nghiên cứu sinh Đồng Thị Kim Xuyến, thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Mai Đức Ngọc (bảo vệ năm 2023), tiếp cận vấn đề dân chủ trong công tác tuyên truyền dưới góc độ Chính trị học. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh yêu cầu thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc" và kiên trì phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Công tác tuyên truyền là một trong ba bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng, giữ vai trò cung cấp, định hướng thông tin nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long giữ vị trí chiến lược đối với an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn công tác tuyên truyền tại vùng trong những năm qua đã đạt được những kết quả cụ thể, song hoạt động lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền có thời điểm còn hình thức; việc xác định nội dung, hình thức và phương tiện tuyên truyền đôi lúc chưa bám sát đặc điểm đối tượng và bối cảnh địa phương. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về việc thực hiện và phát huy dân chủ trong công tác tuyên truyền trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất các quan điểm và giải pháp phát huy dân chủ trong hoạt động này thời gian tới.

Để đạt mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án, nhận định về các công trình nghiên cứu đó, xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ trong công tác tuyên truyền.
  3. Khái quát, phân tích thực trạng, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  4. Đề xuất, luận giải, phân tích cơ sở khoa học của các quan điểm và giải pháp phát huy dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu là dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung: Tập trung vào dân chủ trong công tác tuyên truyền của Đảng.
  • Về không gian: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tiến hành khảo sát thực địa tại 5 tỉnh, thành phố đại diện cho các tiểu vùng và tính đặc thù: Cần Thơ (đô thị loại 1, trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của vùng), Bến Tre (địa hình ba dải cù lao, thế mạnh kinh tế vườn và biển), An Giang (tỉnh biên giới đầu nguồn, dân số gần 2 triệu người, đa dân tộc và đa tôn giáo), Sóc Trăng (tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer nhất cả nước, đặc trưng giao thoa văn hóa Kinh - Khmer - Hoa) và Kiên Giang (tỉnh biên giới Tây Nam, có vùng biển, hải đảo với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ).
  • Về thời gian: Khảo sát thực trạng từ năm 2015; các giải pháp đề xuất có định hướng vận dụng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa: Các công trình quốc tế tiêu biểu gồm nghiên cứu của Robert Alan Dahl (2000) xác định 5 tiêu chuẩn của nền dân chủ lý tưởng (sự tham gia hiệu quả, bình đẳng trong biểu quyết, sự hiểu biết sáng suốt, kiểm soát chương trình nghị sự, tính toàn diện); Thomas Meyer và Nicole Breyer (2007) phân tích các quyền xã hội trong nền dân chủ xã hội; Joseph Schumpeter (2008) xem xét mối quan hệ giữa trật tự xã hội xã hội chủ nghĩa và phương pháp dân chủ; Virginia Beramandi và Andrew Ellis (2014) khảo cứu các cơ chế dân chủ trực tiếp; Paul Cartledge (2018) tái hiện lịch sử dân chủ từ Hy Lạp cổ đại; Quinton Mayne và Armen Hakhverdian (2017); Yida Zhai (2020). Ở trong nước, các tác giả đi sâu luận giải bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ cơ sở: Nguyễn Tiến Phồn (2001) về tập trung dân chủ; Trần Quang Nhiếp (2006) về quy chế dân chủ cơ sở; Hoàng Chí Bảo (2010) về dân chủ nông thôn; Lê Minh Quân (2011) về tiến trình dân chủ hóa; Lê Văn Giang (2011) về dân chủ trong kiểm tra, giám sát của Đảng; Khăm Phon Bun Na Di (2014); Hồ Sỹ Quý (2014); Phạm Hồng Chương và Doãn Thị Chín (2014); Trần Thành (2016); Phạm Văn Đức (2017); Nguyễn Anh Tuấn (2018); Nguyễn Đình Hoà (2020); Trần Thị Thu Huyền (2015); Đỗ Thị Kim Thoa (2016); Vũ Văn Viên (2017); Ngô Đình Xây (2018); Nguyễn Thị Bích Thuỷ (2019); cùng các bài viết của Trần Thanh Giang (2021), Đỗ Thị Thạch (2022), Nguyễn Thanh Tuấn (2022), Vũ Văn Phúc (2022), Nguyễn Thị Hà (2022), Đặng Văn Luận (2022), Nguyễn Thế Trung (2023), Hoàng Thị Ngọc Bích (2023), Nguyễn Trọng Lân (2023).

Nhóm nghiên cứu về công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền và dân chủ trong công tác tuyên truyền: Giáo trình của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005) khẳng định vai trò của tuyên truyền tư tưởng; Bun Đuông Cay Xỏn (2008) khảo sát công tác tư tưởng ở Lào; Lương Khắc Hiếu (2008, 2017, 2021) hệ thống hóa nguyên lý công tác tư tưởng, nhấn mạnh hình thức đối thoại và tính tương tác trực tiếp trong tuyên truyền miệng; Trần Thị Anh Đào (2009, 2014) làm rõ tính khoa học, cách mạng và yêu cầu đào tạo cán bộ tư tưởng; Trần Văn Khánh và cộng sự (2014) về công tác tuyên truyền miệng tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Thu Hà (2014) về đổi mới tuyên truyền kinh tế gắn với đối thoại hai chiều; Lê Mai Trang (2016) về công tác tuyên truyền trong hội nhập quốc tế; Trần Thị Minh Tuyết (2018) nhấn mạnh sự chuyển dịch từ độc thoại sang đối thoại; Bùi Thế Đức (2020); Nguyễn Thanh Hoàng (2020); Trần Thị Thuý Linh và Hà Thị Ánh Tuyết (2021); Bùi Đình Phong (2022); Đỗ Minh Hùng (2020); Phạm Hoàng Tinh (2021); Đoàn Thị Minh Oanh (2021); Phan Xuân Thuỷ (2022); Nguyễn Thị Ánh (2023); Hoàng Quốc Bảo (2023); Lê Văn Lợi (2023); Nguyễn Thị Trường Giang (2023). Về khía cạnh dân chủ trong công tác tư tưởng và tuyên truyền, các tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài (2006), Trần Văn Đông và Dương Phú Hiệp (2014), Phạm Huy Kỳ (2017), Trần Thị Anh Đào và Phan Sỹ Thanh (2019), Đỗ Khánh Tặng (2020), Lương Ngọc Vĩnh, Ngô Văn Thạo và Nguyễn Chí Mỳ (2021) đều khẳng định vai trò của việc lắng nghe, tôn trọng nhân dân và áp dụng phương pháp dân chủ.

Nhóm nghiên cứu về công tác tuyên truyền và dân chủ trong công tác tuyên truyền tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2011); luận án của Đặng Trí Thủ (2012) về công tác vận động đồng bào Khmer; Bùi Hải Dương (2017) về giảng viên lý luận chính trị trường chính trị; ấn phẩm của Ban Tuyên giáo Thành uỷ Cần Thơ (2019), Trần Việt Trường và Nguyễn Ngọc Quy (2021) về tuyên truyền trong đồng bào Khmer; các luận văn của Lê Thị Hồng Duyên (2014), Lê Thanh Vị (2017), Mai Ngọc Minh Phúc (2018), Lâm Thanh Dạng (2019); bài viết của Hoàng Cảnh (2021). Đề cập đến góc độ dân chủ hóa và đối thoại trong tuyên truyền tại vùng có công trình của Nguyễn Văn Út (2016), Trần Bình Trọng (2016) và luận án của Phạm Tuyết Lệ (2018) về chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình chỉ xem xét dân chủ như một nguyên tắc chung của công tác tư tưởng hoặc khảo cứu công tác tuyên truyền theo các nội dung kỹ thuật, nghiệp vụ riêng lẻ. Chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách chỉnh thể, hệ thống về dân chủ trong công tác tuyên truyền tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích thực trạng qua khảo sát thực chứng tại 5 tỉnh, thành phố và xác lập các giải pháp phát huy dân chủ trong công tác tuyên truyền phù hợp với bối cảnh đặc thù của vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và công tác tuyên truyền. Phương pháp luận chủ đạo là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt bốn nguyên lý: mối liên hệ phổ biến và tác động qua lại; sự vận động và chuyển hóa không ngừng; quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi; đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển. Đồng thời, nghiên cứu tuân thủ nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn.

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội, lấy Chính trị học làm chủ đạo, kết hợp tri thức của Xây dựng Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học và Luật học. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp logic và lịch sử: Phân tích quy luật vận động của vấn đề dân chủ và tiến trình lịch sử thực hiện công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận: Đánh giá thực tiễn để khái quát khung lý thuyết và luận giải các đề xuất giải pháp.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ dữ liệu khảo sát và các tài liệu chuyên ngành để nhận diện mức độ dân chủ trong hoạt động tuyên truyền.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Làm rõ các hình thức, nội dung và quy luật vận hành của dân chủ trong tuyên truyền.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Thống kê số liệu, đối chiếu giữa báo cáo hành chính của cơ quan chức năng với kết quả điều tra thực tế; so sánh hiệu quả giữa các hình thức tuyên truyền đối thoại và độc thoại.
  • Phương pháp thu thập thông tin:
    • Dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận từ hệ thống văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo và các tạp chí lý luận chính trị.
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi có cấu trúc. Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên gồm 100 chủ thể tuyên truyền và 400 đối tượng tuyên truyền tại 5 địa phương: Cần Thơ, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng và Kiên Giang.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến trực tiếp của các nhà khoa học, chuyên gia về công tác tư tưởng và dân chủ trong quá trình xây dựng đề cương, bảng hỏi và hoàn thiện nội dung.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để mã hóa, phân tích thông tin định lượng thu được từ các phiếu khảo sát.
Địa phương khảo sát Đặc điểm tiểu vùng và địa bàn đại diện Cỡ mẫu chủ thể Cỡ mẫu đối tượng
Thành phố Cần Thơ Đô thị trung tâm loại 1, vùng kinh tế động lực 20 80
Tỉnh Bến Tre Tiểu vùng cù lao ven biển, sinh thái ngập mặn 20 80
Tỉnh An Giang Tiểu vùng biên giới, đầu nguồn sông Cửu Long, đa tôn giáo 20 80
Tỉnh Sóc Trăng Địa bàn ven biển, cửa sông, đông đồng bào Khmer 20 80
Tỉnh Kiên Giang Địa bàn biên giới, ven biển, mạng lưới hải đảo 20 80
Tổng cộng 5 tỉnh, thành phố đại diện toàn diện cho vùng 100 400

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đề tài của luận án

Chương này tập trung hệ thống hóa khối lượng tài liệu phong phú trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành ba mảng lớn: lý luận về dân chủ và quá trình dân chủ hóa; lý luận về công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền; thực tiễn công tác tuyên truyền và dân chủ hóa thông tin tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đánh giá tổng quan cho thấy các công trình trước đây đã làm rõ khái niệm dân chủ từ thời cổ đại đến hiện đại, xác lập các tiêu chí của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhận diện chức năng của công tác tuyên truyền miệng và tuyên truyền qua truyền thông đại chúng.

Tuy vậy, tác giả khẳng định việc nghiên cứu dân chủ trong công tác tuyên truyền tại vùng Tây Nam Bộ mới dừng lại ở mức phản ánh khái quát hoặc nghiên cứu bộ phận (như tuyên truyền trong đồng bào Khmer hay chất lượng báo cáo viên), chưa tạo lập được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh. Từ đó, chương 1 vạch ra bốn hướng nghiên cứu cần thực hiện: làm rõ bản chất và biểu hiện của dân chủ trong từng yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền; phân tích dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện; nghiên cứu dân chủ trong tuyên truyền theo nhóm đối tượng, tiểu vùng địa bàn; và xác định giải pháp phát huy dân chủ trong công tác tuyên truyền tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương 2: Dân chủ trong công tác tuyên truyền - Một số vấn đề lý luận

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và khung lý thuyết của đề tài. Về khái niệm tuyên truyền, tác giả phân tích thuật ngữ từ gốc La tinh (propaganda), quan điểm truyền thông phương Tây (Vincent, Nelson), quan niệm của Liên Xô, giải nghĩa Hán - Việt, Từ điển tiếng Việt và định nghĩa mộc mạc của Hồ Chí Minh: "Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm". Luận án xác định công tác tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tạo sự thống nhất nhận thức và hành động.

Về cấu trúc hoạt động, công tác tuyên truyền gồm 8 yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và hiệu quả. Luận án phân định chủ thể tuyên truyền thành ba nhóm:

  1. Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý: Các cấp ủy đảng từ Trung ương đến chi bộ cơ sở và cơ quan nhà nước các cấp.
  2. Chủ thể tham mưu, giúp việc, kiểm tra: Cơ quan tuyên giáo các cấp, ngành thông tin - truyền thông, văn hóa - thể thao - du lịch.
  3. Chủ thể tác chiến: Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóng viên, giảng viên và các lực lượng trực tiếp tiến hành tuyên truyền.

Khái niệm dân chủ được phân tích từ nguồn gốc Hy Lạp (demos - nhân dân, kratos - quyền lực) đến quan điểm Mác - Lênin về ba hình thái nhà nước dân chủ (chủ nô, tư sản, xã hội chủ nghĩa) và quan điểm Hồ Chí Minh: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân". Trên cơ sở đó, tác giả định nghĩa: Dân chủ trong công tác tuyên truyền là việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ, tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả chủ thể và đối tượng trong tất cả các khâu của quá trình tuyên truyền. Nội dung dân chủ bao gồm: quyền được thông tin chính xác, kịp thời; quyền thảo luận, trao đổi, tranh luận, đối thoại hai chiều; quyền phản ánh tâm tư, nguyện vọng và đóng góp sáng kiến; quyền tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả tuyên truyền. Chương này cũng phân tích các nhân tố khách quan, chủ quan chi phối và khẳng định tính tất yếu phải mở rộng dân chủ trong công tác tuyên truyền hiện nay.

Chương 3: Dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 bắt đầu bằng việc phân tích các đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long tác động trực tiếp đến việc thực thi dân chủ trong tuyên truyền: địa bàn sông ngòi kênh rạch chằng chịt, bờ biển dài, mạng lưới cù lao và hải đảo; tính chất dân cư đa dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) và đa tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Hòa Hảo, Cao Đài...); tính cách người dân Nam Bộ cởi mở, bộc trực, ưa chuộng sự chân thành, bình đẳng trong giao tiếp.

Dựa trên dữ liệu điều tra thực địa bằng bảng hỏi đối với 100 chủ thể và 400 đối tượng tại Cần Thơ, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang (được xử lý qua SPSS), tác giả đánh giá thực trạng:

  • Ưu điểm: Các cấp ủy đảng đã quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng; nội dung tuyên truyền bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương; hình thức tuyên truyền từng bước chuyển từ độc thoại áp đặt sang đối thoại, tăng cường giao lưu, hỏi - đáp; công nghệ thông tin và mạng xã hội bước đầu được khai thác để mở rộng kênh thông tin tiếp cận nhân dân; đối tượng tuyên truyền thể hiện tinh thần chủ động đóng góp ý kiến xây dựng chính sách.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Việc lãnh đạo ở một số nơi còn mang tính hình thức, hành chính hóa; nội dung tuyên truyền có lúc còn khô cứng, chậm cập nhật thông tin thực tiễn; phương pháp tuyên truyền miệng tại nhiều cơ sở vẫn nặng tính truyền đạt một chiều; cơ sở vật chất, thiết bị truyền thanh, tuyên truyền tại vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo còn thiếu thốn; năng lực đối thoại, xử lý tình huống phát sinh của một bộ phận báo cáo viên còn bất cập.
  • Những vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa nhu cầu tiếp cận thông tin đa chiều ngày càng cao của người dân với năng lực cung cấp thông tin định hướng của cấp ủy; thách thức trước sự phát tán thông tin xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên mạng xã hội tại địa bàn chiến lược; yêu cầu chuẩn hóa cơ chế đối thoại, giải trình và xử lý thông tin phản hồi từ cơ sở.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát huy dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới

Chương 4 xác lập các định hướng và giải pháp ứng dụng đến năm 2030:

  • Hệ thống quan điểm: Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với công tác tuyên truyền; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; quán triệt quan điểm "dân là gốc", coi nhân dân vừa là đối tượng vừa là chủ thể sáng tạo; thực hiện dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, pháp luật; phát huy dân chủ phải xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với tính chất đa dạng về văn hóa, dân tộc, tôn giáo của vùng Tây Nam Bộ.
  • Hệ thống 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
    1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên về vai trò của dân chủ trong công tác tuyên truyền; coi việc thực hành dân chủ là thước đo năng lực lãnh đạo tư tưởng.
    2. Đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng thiết thực, sát hợp nhu cầu của từng tiểu vùng (đô thị, cù lao, biên giới, vùng đồng bào Khmer); chuyển trọng tâm vào việc giải thích chính sách gắn với bảo đảm lợi ích thiết thân của người dân.
    3. Đa dạng hóa phương pháp và hình thức tuyên truyền: Giảm thiểu lối nói độc thoại áp đặt; đẩy mạnh đối thoại trực tiếp, tọa đàm, tranh luận bàn tròn; ứng dụng nền tảng số, internet, mạng xã hội để tổ chức các diễn đàn tương tác hai chiều; lồng ghép tuyên truyền qua hoạt động lễ hội truyền thống, sinh hoạt tôn giáo hợp pháp.
    4. Nâng cao chất lượng, kỹ năng thực hành dân chủ cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, báo cáo viên, tuyên truyền viên: Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, thuyết phục, kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc (đặc biệt là tiếng Khmer) và kỹ năng phản bác các quan điểm sai trái.
    5. Xây dựng môi trường thuận lợi, hoàn thiện cơ chế, quy chế thực hiện dân chủ trong công tác tuyên truyền; bảo đảm kinh phí, phương tiện kỹ thuật cho cơ sở; thiết lập kênh tiếp nhận và xử lý kịp thời các ý kiến phản ánh, kiến nghị của nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ và bổ sung hệ thống lý luận chuyên ngành Công tác tư tưởng về dân chủ trong hoạt động tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án làm rõ khái niệm, cấu trúc, tiêu chí và cơ chế vận hành của dân chủ trong 8 yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền (chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện, hiệu quả); phân tích tính đặc thù của việc thực thi dân chủ trong môi trường xã hội đa dân tộc, đa tôn giáo tại vùng cực Nam của Tổ quốc.

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, khách quan về thực trạng thực hiện dân chủ trong công tác tuyên truyền tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2023 thông qua mẫu điều tra 500 phiếu (100 chủ thể và 400 đối tượng) tại 5 địa phương đại diện.
  • Luận án chỉ rõ những mâu thuẫn, tồn tại có thực trong phương thức vận hành công tác tuyên truyền tại địa bàn cơ sở.
  • Các kiến nghị và giải pháp do luận án đề xuất có tính khả thi, cung cấp luận cứ khoa học để các ban tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy đảng vùng Tây Nam Bộ nghiên cứu, vận dụng vào việc hoạch định chương trình hành động, đổi mới phương thức tuyên truyền miệng và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế: Do nguồn lực và phạm vi nghiên cứu của đề tài tiến sĩ, khảo sát thực địa bằng bảng hỏi mới chỉ tiến hành tại 5 trên tổng số 13 tỉnh, thành phố của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang). Dù 5 địa phương này mang tính đại diện cho các tiểu vùng sinh thái và dân cư, dữ liệu vẫn chưa bao quát hết chi tiết đặc thù của tất cả các tỉnh còn lại trong vùng. Khung thời gian khảo sát thực trạng tập trung từ năm 2015, do đó các chuyển biến truyền thông số mới phát sinh trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19 chỉ mới được phản ánh ở mức độ bước đầu.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô khảo sát xã hội học trên toàn bộ 13 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ nhằm lượng hóa sâu sắc hơn mức độ thỏa mãn thông tin của các nhóm cư dân.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về dân chủ trong công tác tuyên truyền đối với từng nhóm đối tượng đặc thù: đồng bào dân tộc Khmer, chức sắc và tín đồ tôn giáo, ngư dân vùng biên giới biển và hải đảo.
  • Nghiên cứu cơ chế tương tác, tích hợp giữa việc thực hiện dân chủ trong công tác tuyên truyền với hai bộ phận còn lại của công tác tư tưởng là công tác lý luận và công tác cổ động trong bối cảnh chuyển đổi số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Công tác tư tưởng, Chính trị học, Xây dựng Đảng: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết hệ thống về cấu trúc công tác tuyên truyền và phương pháp thiết kế công cụ điều tra xã hội học định lượng (xử lý qua SPSS) ứng dụng trong khoa học chính trị.
  • Đối với các cơ quan lãnh đạo, quản lý và ngành Tuyên giáo vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Luận án là căn cứ thực chứng hữu ích để đánh giá lại quy trình chỉ đạo, kiểm tra, xây dựng kế hoạch tuyên truyền hàng năm, khắc phục tình trạng hành chính hóa và áp đặt một chiều.
  • Đối với đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở: Nội dung luận án định hướng việc chuyển đổi phương pháp làm việc từ truyền đạt thụ động sang đối thoại trực tiếp, gợi mở cách thức tiếp cận người dân phù hợp với tâm lý vùng sông nước Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực địa tại những địa phương nào và quy mô mẫu là bao nhiêu? Luận án tiến hành khảo sát tại 5 tỉnh, thành phố đại diện của vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm: Thành phố Cần Thơ, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng và Kiên Giang. Mẫu điều tra ngẫu nhiên bằng phiếu hỏi có cấu trúc gồm 100 phiếu dành cho chủ thể tuyên truyền và 400 phiếu dành cho đối tượng tuyên truyền (tổng quy mô mẫu là 500 phiếu).

2. Công tác tuyên truyền được xác định gồm những yếu tố cấu thành nào? Khi xem xét như một hoạt động xã hội đặc thù, công tác tuyên truyền gồm 8 yếu tố cơ bản: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và hiệu quả.

3. Chủ thể của công tác tuyên truyền được phân loại thành các nhóm nào trong luận án? Luận án phân định chủ thể công tác tuyên truyền thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1: Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý (tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp và cơ quan quản lý nhà nước).
  • Nhóm 2: Chủ thể tham mưu, giúp việc, kiểm tra (cơ quan tuyên giáo các cấp, ngành thông tin - truyền thông, ngành văn hóa - thể thao - du lịch).
  • Nhóm 3: Chủ thể tác chiến (đội ngũ trực tiếp tiến hành tuyên truyền như báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóng viên, giảng viên).

4. Dữ liệu khảo sát sơ cấp của luận án được xử lý bằng công cụ phân tích nào? Luận án sử dụng phần mềm thống kê chuyên ngành SPSS để nhập liệu, mã hóa, thống kê mô tả và phân tích các dữ liệu định lượng thu thập được từ bảng hỏi khảo sát 100 chủ thể và 400 đối tượng.

5. Khung thời gian nghiên cứu thực trạng và mốc vận dụng giải pháp của luận án là bao lâu? Thực trạng dân chủ trong công tác tuyên truyền ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long được luận án tập trung khảo cứu từ năm 2015; hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách được xác lập có giá trị định hướng vận dụng thực tiễn đến năm 2030.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Chính trị học của Đồng Thị Kim Xuyến đã giải quyết một vấn đề vừa mang tính cấp thiết về lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác tư tưởng của Đảng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bằng cách tiếp cận liên ngành và sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính với điều tra xã hội học định lượng, tác giả đã làm rõ cấu trúc 8 yếu tố của công tác tuyên truyền và xác lập nội hàm của dân chủ trong hoạt động này. Những dữ liệu thực tế tại 5 địa phương đại diện đã chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các hạn chế, điểm nghẽn trong phương thức tuyên truyền một chiều tại cơ sở. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học thực chất, góp phần thúc đẩy việc đổi mới nội dung, phương thức đối thoại và nâng cao hiệu quả công tác tuyên giáo trên địa bàn Tây Nam Bộ trong giai đoạn đến năm 2030.