phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong 4 chương, 12 tiết. 5 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Tầm quan trọng của đổi mới và ổn định từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, xác định là một trong các nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã chính thức đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với đó, Đảng cũng coi ổn định xã hội là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên”.
Kể từ đó đến nay, nhận thức về đổi mới và ổn định ở Việt Nam cũng không ngừng được hoàn thiện trong sự phát triển chung của đất nước. Trên lĩnh vực nghiên cứu, trong những năm qua (từ 1986 đến nay, đặc biệt là 15 năm trở lại đây), đã có nhiều công trình bàn đến vấn đề đổi mới, ổn định nói chung, đổi mới và ổn định ở Việt Nam nói riêng từ những góc độ với mức độ khác nhau. Trước những nghiên cứu đa dạng như vậy, chúng tôi tiếp cận các tài liệu có liên quan đế đề tài chủ yếu theo các nhóm vấn đề chính sau: 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định Đổi mới và ổn định là vấn đề của nhiều ngành nghiên cứu như triết học, chính trị học, giáo dục học… Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam ngày càng trở nên rõ nét.
Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu đề cập đến quan niệm về đổi mới, ổn định. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới, ổn định * Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới Trong cuốn Tri t h c và v ề ổi mới xã hội, tác giả Nguyễn Thế Nghĩa khi đưa ra quan niệm về hi ại hóa đã cho rằng, ở những nước đang phát triển, hiện đại hóa thực chất là quá trình ổi mới toàn di n, sâu sắc và tri t ể mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất[99]. Trong khi đó, tác giả Trần Nhâm, với cuốn Đổi mới và phát triển bền v ng ới ng n cờ t t ởng c a giai c p công nhân [101] lại đưa ra quan niệm cụ thể về đổi mới, rằng đó là quá trình rời bỏ khỏi mình những gì đang kìm hãm và cản trở sự phát triển; tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một cáchhệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt 6 luan an bậc. Theo tác giả, đổi mới tư duy - một lĩnh vực của đổi mới là điểm khởi đầu của hành trình đổi mới.
Đổi mới tư duy có vai trò định hướng cho việc đổi mới hoạt động thực tiễn của con người, mở đường cho việc đổi mới trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Tác giả cho rằng, đổi mới tư duy chính là một cuộc giải phóng về tư tưởng, thoát khỏi căn bệnh giáo điều và những điều không giải thích đ úng của người khác về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, trong quá trình đổi mới, cần ngăn ngừa những chao đảo, ngả nghiêng, chệch hướng rơi vào chủ nghĩa xét lại [101]. Cuốn Đổi mới - B ớc phát triển t t y u ĩ ội ở Vi t Nam của tác giả Nguyễn Khánh lại đưa ra một số ý kiến phân tích ở tầm vĩ mô về sự cần thiết, khách quan của đổi mới và khẳng định, đổi mới chính là bước phát triển tự nhiên, tất yếu của cách mạng Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo tác giả, đổi mới có thể hiểu một cách chung nhất là thay đổi cái cũ không còn phù hợp bằng cái mới tốt hơn. Tác giả cũng cho rằng, đổi mới ở nước ta là sự thay đổi tiến bộ ở tầm vĩ mô, thay đổi có ý nghĩa hệ thống, từ nhận thức đến chủ trương và tổ chức hành động [64]. Khác với quan điểm trên của tác giả Nguyễn Khánh, trong cuốn Cải cách và s phát triển, tác giả Nguyễn Trần Bạt lại phân biệt đổi mới với cải cách và cách mạng để từ đó, làm rõ bản chất và mục tiêu của cải cách. Theo tác giả, đổi mới là công việc diễn ra hàng ngày mà bất kỳ sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn trải qua như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống [9].
Về vấn đề đổi mới ở nước ta, tác giả Nguyễn Trọng Phúc, trong cuốn Một s kinh nghi m c Đảng Cộng sản Vi t N tr qu tr ạo s nghi p ổi mới khẳng định, đến thời điểm chuẩn bị Đại hội VI của Đảng, từ “đổi mới” được dùng nhiều trong một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng ta để chỉ cuộc cải cách lớn về đường lối, chính sách, về cách nghĩ, cách làm của Đảng lãnh đạo và nhân dân để đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội. Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho m c tiêu ợc th c hi n có hi u quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội [109]. Nói đến đổi mới, khi phân tích vai trò của ổn định chính trị - xã hội, cuốn Ổn ịnh chính trị - xã hội trong công cuộ ổi mới ở Vi t Nam, tác giả Nguyễn Văn Cư cho rằng, ổi mới là một quá trình vận động của những mâu thuẫ e a cái ũv ới, gi a cái bảo th , trì tr với cái ti n bộ, vă , as ều và sáng tạo. Đây cũng là quá trình đấu tranh gay go, lâu dài, phức tạp nhằm đem lại 7 luan an thắng lợi cho cái mới, cái tiến bộ…, là sự thay đổi có ý nghĩa hệ thống từ nhận thức, chủ trương đến tổ chức và hành động [Xem: 18, tr.
Trong cuốn Đổi mới và phát triển ở Vi t Nam: Một s v ề lý lu n và th c tiễn [138], các tác giả đã đưa ra một số khái niệm cơ bản như đổi mới, phát triển; quy luật khách quan của vấn đề đổi mới, phát triển; bối cảnh ra đời, quá trình hình thành, phát triển đường lối đổi mới ở Việt Nam. Các tác giả còn đề cập đến vấn đề đổi mới và phát triển trong một số lĩnh vực chủ yếu trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, như đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, đổi mới văn hoá - xã hội… Các tác giả khẳng định, đổi mới có cả mục tiêu lý luận và mục tiêu thực tiễn. Về lý lu n, đổi mới nhằm xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về th c tiễn, đổi mới để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc.
Hai mục tiêu đó có quan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụ cho mục tiêu thực tiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, là đòi hỏi nâng cao chất lượng mục tiêu lý luận, vừa là phương thức kiểm tra thành quả đạt được của mục tiêu lý luận[138]. Cuốn Tri t h v ổi mới trình bày những suy ngẫm, kiến giải của tác giả về một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách từ giác độ triết học, như vấn đề ổi mới nh n th c về ch ĩ ội và thời k qu ộ, vấn đề ổi mới nh n th c về th giớ v í s i ngoại…; từ đó, chỉ ra một số đặc điểm của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Tác giả cũng đã phân biệt đổi mới với cải cách rằng, cải cách tuy cũng tạo ra sự thay đổi về chất trong đời sống xã hội, nhưng chỉ tạo nên những biến đổi riêng lẻ, bộ phận, còn đổi mới bao hàm cả nội dung cải cách nhưng là sự thay đổi toàn diện dẫn đến thay đổi mô hình phát triển. Từ việc làm rõ khái niệm đổi mới, tác giả còn chỉ ra tính tất yếu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và khẳng định, trong quá trình đổi mới, Việt Nam tham khảo những bài học kinh nghiệm của cải tổ ở Liên xô, cải cách ở Đông Âu, Trung Quốc và các nước khác, nhưng không rập khuôn, áp dụng máy móc, mà có những chủ trương và cách làm khác.
Đó cũng chính là đặc điểm của quá trình đổi mới ở Việt Nam [48]. Trong cuốn Về các m i quan h lớn cầ ợc giải quy t t t trong quá trình ổi mớ ĩ ội ở ớc ta do GS. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), các tác giả khẳng định rằng, khó có thể có một định nghĩa duy nhất, chính xác tuyệt đối về đổi mới. Đổi mới chính là quá trình nhằm làm cho h th t ổi từ trạng t ũs trạng thái mới, ti n bộ ơ.
Đó là một cuộc đấu tranh giữa cái mới tiến bộ hơn với cái cũ lạc hậu, giữa năng động, sáng tạo với bảo thủ, trì trệ [Xem: 139, tr. Cụ thể hơn, trong cuốn Giả p , ổi mới, phát triển vì ch ĩ ội 8 luan an nhấn mạnh, thực chất của đổi mới là tạo sự thay đổi cho căn bản phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh mới, làm cho thích nghi với những điều kiện, hoàn cảnh mới để tiếp tục tồn tại và phát triển. Đổi mới cũng là định hướng và vươn tới cái mới. Các tác giả cũng lý giải thêm về các khái niệm có như “canh tân”, “cách tân” hay “cải cách” và cho rằng đó đều là những nội dung quan trọng của đổi mới khi hiểu đổi mới theo nghĩa rộng, nghĩa là mang tính tổng thể và trên một quy mô lớn.
Còn canh tân, cách tân, cải cách thường đề cập đến đổi mới các lĩnh vực cụ thể và trong phạm vi hẹp hơn [62]. Liên quan đến khái niệm đổi mới, còn có khái niệm “kế thừa”.