Mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam hiện nay

Tài liệu chuyên sâu Đổi mới và ổn định ở Việt Nam: Mối quan hệ hiện nay, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho chuyên ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

CNDVBC & CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

168
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới, ổn định

1.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

1.4. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

1.5. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá những thành tựu giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

1.6. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá những hạn chế trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

1.7. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương hướng, giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

1.8. Đánh giá về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.9. Đánh giá về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH

2.1. Quan niệm về đổi mới và ổn định

2.2. Quan niệm về đổi mới

2.3. Quan niệm về ổn định

2.4. Mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

2.4.1. Đổi mới và ổn định là hai mặt gắn bó với nhau trong sự vận động, phát triển của đời sống xã hội

2.4.2. Đổi mới là phương thức để phát triển, là tiền đề cho ổn định

2.4.3. Ổn định là điều kiện, môi trường cho đổi mới

2.4.4. Phát triển với tư cách mục tiêu của đổi mới và ổn định

2.4.5. Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định vì mục tiêu phát triển

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Một số thành tựu trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

3.2. Giữ vững ổn định trên các lĩnh vực của đời sống xã hội - điều kiện, môi trường thúc đẩy quá trình đổi mới thành công

3.3. Tăng cường đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội - tiền đề cho sự ổn định vững chắc, lâu dài

3.4. Một số hạn chế trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

3.5. Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện - hệ quả dẫn đến sự thiếu vững chắc trong ổn định xã hội

3.6. Sự mất ổn định trong các lĩnh vực - một yếu tố cản trở đổi mới

3.7. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

3.7.1. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

3.7.2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT CÓ HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI VÀ ỔN ĐỊNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Phương hướng nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam hiện nay

4.2. Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

4.3. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

4.4. Một số giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam hiện nay

4.5. Nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và nhân dân về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định. Kết hợp giữa đổi mới và ổn định vì sự phát triển toàn diện, hài hoà trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

4.6. Tạo nguồn lực trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

4.7. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

Mối quan hệ giữa đổi mớiổn định ở Việt Nam đã được xác định là một vấn đề có tính quy luật trong quá trình phát triển xã hội. Từ Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn đổi mới như một phương thức phát triển, tạo tiền đề cho ổn định xã hội. Đổi mới không chỉ là một chính sách mà còn là một quá trình cần thiết để duy trì sự phát triển bền vững. Theo đó, ổn định được xem là điều kiện tiên quyết cho đổi mới thành công. Việc duy trì ổn định chính trị và xã hội là yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới. Như vậy, hai khái niệm này không thể tách rời mà phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với nhau.

1.1. Khái niệm về đổi mới và ổn định

Đổi mới được hiểu là quá trình thay đổi, cải cách nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế. Trong khi đó, ổn định là trạng thái không có biến động lớn trong xã hội, tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế, chính trị diễn ra suôn sẻ. Sự kết hợp giữa đổi mớiổn định là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Theo tác giả Nguyễn Thế Nghĩa, đổi mới là quá trình hiện đại hóa, trong khi ổn định là yếu tố bảo đảm cho sự phát triển này diễn ra một cách liên tục và hiệu quả.

II. Thực trạng mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam

Trong hơn 30 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mớiổn định. Nền kinh tế đã có bước phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa thật sự ổn định. Các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa đều có những thành tựu nhất định, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Sự mất ổn định trong một số lĩnh vực đã ảnh hưởng đến quá trình đổi mới. Theo đó, cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế này, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho đổi mớiổn định.

2.1. Thành tựu và hạn chế trong mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc duy trì ổn định chính trị và xã hội, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển chưa đồng bộ và toàn diện đã dẫn đến những hạn chế trong ổn định xã hội. Các vấn đề như lạm phát, nợ công, và sự gia tăng của tệ nạn xã hội đang đặt ra thách thức lớn cho quá trình đổi mới. Cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề này, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho đất nước.

III. Phương hướng và giải pháp cho mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

Để giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mớiổn định, Việt Nam cần kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và nhân dân về mối quan hệ này là rất quan trọng. Cần kết hợp giữa đổi mớiổn định để phát triển toàn diện, hài hòa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tạo nguồn lực trong quá trình giải quyết mối quan hệ này cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững.

3.1. Giải pháp nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định

Nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mớiổn định là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tổ chức các hội thảo, tọa đàm để trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan. Đồng thời, cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu để đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Việc này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về tầm quan trọng của mối quan hệ này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong 4 chương, 12 tiết. 5 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Tầm quan trọng của đổi mới và ổn định từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, xác định là một trong các nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã chính thức đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với đó, Đảng cũng coi ổn định xã hội là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên”.

Kể từ đó đến nay, nhận thức về đổi mới và ổn định ở Việt Nam cũng không ngừng được hoàn thiện trong sự phát triển chung của đất nước. Trên lĩnh vực nghiên cứu, trong những năm qua (từ 1986 đến nay, đặc biệt là 15 năm trở lại đây), đã có nhiều công trình bàn đến vấn đề đổi mới, ổn định nói chung, đổi mới và ổn định ở Việt Nam nói riêng từ những góc độ với mức độ khác nhau. Trước những nghiên cứu đa dạng như vậy, chúng tôi tiếp cận các tài liệu có liên quan đế đề tài chủ yếu theo các nhóm vấn đề chính sau: 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định Đổi mới và ổn định là vấn đề của nhiều ngành nghiên cứu như triết học, chính trị học, giáo dục học… Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam ngày càng trở nên rõ nét.

Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu đề cập đến quan niệm về đổi mới, ổn định. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới, ổn định * Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm về đổi mới Trong cuốn Tri t h c và v ề ổi mới xã hội, tác giả Nguyễn Thế Nghĩa khi đưa ra quan niệm về hi ại hóa đã cho rằng, ở những nước đang phát triển, hiện đại hóa thực chất là quá trình ổi mới toàn di n, sâu sắc và tri t ể mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất[99]. Trong khi đó, tác giả Trần Nhâm, với cuốn Đổi mới và phát triển bền v ng ới ng n cờ t t ởng c a giai c p công nhân [101] lại đưa ra quan niệm cụ thể về đổi mới, rằng đó là quá trình rời bỏ khỏi mình những gì đang kìm hãm và cản trở sự phát triển; tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một cáchhệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt 6 luan an bậc. Theo tác giả, đổi mới tư duy - một lĩnh vực của đổi mới là điểm khởi đầu của hành trình đổi mới.

Đổi mới tư duy có vai trò định hướng cho việc đổi mới hoạt động thực tiễn của con người, mở đường cho việc đổi mới trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Tác giả cho rằng, đổi mới tư duy chính là một cuộc giải phóng về tư tưởng, thoát khỏi căn bệnh giáo điều và những điều không giải thích đ úng của người khác về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, trong quá trình đổi mới, cần ngăn ngừa những chao đảo, ngả nghiêng, chệch hướng rơi vào chủ nghĩa xét lại [101]. Cuốn Đổi mới - B ớc phát triển t t y u ĩ ội ở Vi t Nam của tác giả Nguyễn Khánh lại đưa ra một số ý kiến phân tích ở tầm vĩ mô về sự cần thiết, khách quan của đổi mới và khẳng định, đổi mới chính là bước phát triển tự nhiên, tất yếu của cách mạng Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Theo tác giả, đổi mới có thể hiểu một cách chung nhất là thay đổi cái cũ không còn phù hợp bằng cái mới tốt hơn. Tác giả cũng cho rằng, đổi mới ở nước ta là sự thay đổi tiến bộ ở tầm vĩ mô, thay đổi có ý nghĩa hệ thống, từ nhận thức đến chủ trương và tổ chức hành động [64]. Khác với quan điểm trên của tác giả Nguyễn Khánh, trong cuốn Cải cách và s phát triển, tác giả Nguyễn Trần Bạt lại phân biệt đổi mới với cải cách và cách mạng để từ đó, làm rõ bản chất và mục tiêu của cải cách. Theo tác giả, đổi mới là công việc diễn ra hàng ngày mà bất kỳ sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn trải qua như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống [9].

Về vấn đề đổi mới ở nước ta, tác giả Nguyễn Trọng Phúc, trong cuốn Một s kinh nghi m c Đảng Cộng sản Vi t N tr qu tr ạo s nghi p ổi mới khẳng định, đến thời điểm chuẩn bị Đại hội VI của Đảng, từ “đổi mới” được dùng nhiều trong một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng ta để chỉ cuộc cải cách lớn về đường lối, chính sách, về cách nghĩ, cách làm của Đảng lãnh đạo và nhân dân để đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội. Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho m c tiêu ợc th c hi n có hi u quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội [109]. Nói đến đổi mới, khi phân tích vai trò của ổn định chính trị - xã hội, cuốn Ổn ịnh chính trị - xã hội trong công cuộ ổi mới ở Vi t Nam, tác giả Nguyễn Văn Cư cho rằng, ổi mới là một quá trình vận động của những mâu thuẫ e a cái ũv ới, gi a cái bảo th , trì tr với cái ti n bộ, vă , as ều và sáng tạo. Đây cũng là quá trình đấu tranh gay go, lâu dài, phức tạp nhằm đem lại 7 luan an thắng lợi cho cái mới, cái tiến bộ…, là sự thay đổi có ý nghĩa hệ thống từ nhận thức, chủ trương đến tổ chức và hành động [Xem: 18, tr.

Trong cuốn Đổi mới và phát triển ở Vi t Nam: Một s v ề lý lu n và th c tiễn [138], các tác giả đã đưa ra một số khái niệm cơ bản như đổi mới, phát triển; quy luật khách quan của vấn đề đổi mới, phát triển; bối cảnh ra đời, quá trình hình thành, phát triển đường lối đổi mới ở Việt Nam. Các tác giả còn đề cập đến vấn đề đổi mới và phát triển trong một số lĩnh vực chủ yếu trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, như đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, đổi mới văn hoá - xã hội… Các tác giả khẳng định, đổi mới có cả mục tiêu lý luận và mục tiêu thực tiễn. Về lý lu n, đổi mới nhằm xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về th c tiễn, đổi mới để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc.

Hai mục tiêu đó có quan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụ cho mục tiêu thực tiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, là đòi hỏi nâng cao chất lượng mục tiêu lý luận, vừa là phương thức kiểm tra thành quả đạt được của mục tiêu lý luận[138]. Cuốn Tri t h v ổi mới trình bày những suy ngẫm, kiến giải của tác giả về một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách từ giác độ triết học, như vấn đề ổi mới nh n th c về ch ĩ ội và thời k qu ộ, vấn đề ổi mới nh n th c về th giớ v í s i ngoại…; từ đó, chỉ ra một số đặc điểm của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Tác giả cũng đã phân biệt đổi mới với cải cách rằng, cải cách tuy cũng tạo ra sự thay đổi về chất trong đời sống xã hội, nhưng chỉ tạo nên những biến đổi riêng lẻ, bộ phận, còn đổi mới bao hàm cả nội dung cải cách nhưng là sự thay đổi toàn diện dẫn đến thay đổi mô hình phát triển. Từ việc làm rõ khái niệm đổi mới, tác giả còn chỉ ra tính tất yếu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và khẳng định, trong quá trình đổi mới, Việt Nam tham khảo những bài học kinh nghiệm của cải tổ ở Liên xô, cải cách ở Đông Âu, Trung Quốc và các nước khác, nhưng không rập khuôn, áp dụng máy móc, mà có những chủ trương và cách làm khác.

Đó cũng chính là đặc điểm của quá trình đổi mới ở Việt Nam [48]. Trong cuốn Về các m i quan h lớn cầ ợc giải quy t t t trong quá trình ổi mớ ĩ ội ở ớc ta do GS. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), các tác giả khẳng định rằng, khó có thể có một định nghĩa duy nhất, chính xác tuyệt đối về đổi mới. Đổi mới chính là quá trình nhằm làm cho h th t ổi từ trạng t ũs trạng thái mới, ti n bộ ơ.

Đó là một cuộc đấu tranh giữa cái mới tiến bộ hơn với cái cũ lạc hậu, giữa năng động, sáng tạo với bảo thủ, trì trệ [Xem: 139, tr. Cụ thể hơn, trong cuốn Giả p , ổi mới, phát triển vì ch ĩ ội 8 luan an nhấn mạnh, thực chất của đổi mới là tạo sự thay đổi cho căn bản phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh mới, làm cho thích nghi với những điều kiện, hoàn cảnh mới để tiếp tục tồn tại và phát triển. Đổi mới cũng là định hướng và vươn tới cái mới. Các tác giả cũng lý giải thêm về các khái niệm có như “canh tân”, “cách tân” hay “cải cách” và cho rằng đó đều là những nội dung quan trọng của đổi mới khi hiểu đổi mới theo nghĩa rộng, nghĩa là mang tính tổng thể và trên một quy mô lớn.

Còn canh tân, cách tân, cải cách thường đề cập đến đổi mới các lĩnh vực cụ thể và trong phạm vi hẹp hơn [62]. Liên quan đến khái niệm đổi mới, còn có khái niệm “kế thừa”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Hảo, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đặng Hữu Toàn, tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa quá trình đổi mới và sự ổn định trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng đổi mới không chỉ là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng mà còn cần thiết để duy trì sự ổn định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ mối quan hệ này, giúp họ có cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách và chiến lược phát triển hiện tại của Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến đổi mới và quản lý trong lĩnh vực kinh tế, bạn có thể tham khảo bài viết "Đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam", nơi phân tích sự cần thiết của đổi mới trong các doanh nghiệp khởi nghiệp. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu tác động của FDI đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về quan hệ lợi ích trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công nghiệp ở Thái Nguyên" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển công nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến đổi mới và ổn định trong nền kinh tế Việt Nam.