phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án cấu trúc gồm có những Chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về tạo động lực cho ngƣời lao động trong tập đoàn kinh tế nhà nƣớc. Chƣơng 3: Thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động tại tập đoàn Điện lực Việt Nam giai đoạn 2016 - 2022. Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp tạo động lực cho ngƣời lao động tại tập đoàn Điện lực Việt Nam tới năm 2030, tầm nhìn 2045 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƢỚC NGOÀI Động lực và tạo động lực cho ngƣời lao động là một chủ đề không mới nhƣng khá thời sự đƣợc nhiều học giả trong và ngoài nƣớc quan tâm. Động lực của ngƣời lao động là đề cập những yếu tố tạo nên sự nhiệt tình, hăng say, trách nhiệm, cống hiến… của mỗi con ngƣời từ nhận thức đến hành động thực tiễn. Động lực lao động không đồng nhất với khả năng lao động. Năng lực lao động biểu hiện ở khái niệm sức lao động của C.Mác, đó là tổng hợp thể lực, trí lực tồn tại trong mỗi một con ngƣời đang sống.
Lao động, theo C.Mác, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời thông qua sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tƣợng lao động bắt nó bộc lộ những công dụng hay những thuộc tính có ích (C.Mác gọi là giá trị sử dụng). Với cách tiếp cận đó, hành vi của con ngƣời là quá trình lựa chọn cách thức làm việc đem lại kết quả tốt nhất. Lao động là một quá trình sản sinh ra sức lực, bao gồm sức óc, thần kinh và cơ bắp. Động lực lao động là tổng thể những yếu tố làm kích hoạt năng lực về trí óc, thần kinh và duy trì nó trong trạng thái thƣờng xuyên suốt quá trình lao động sản xuất.
Frederick Winslow Taylor (1911), với lý thuyết cây gậy và củ cà rốt, dƣới góc nhìn của kẻ săn lùng lợi nhuận luôn tìm cách khai thác tối đa khả năng lao động con ngƣời, gây áp lực (cây gậy) đồng thời khuyến khích bằng lợi ích vật chất cụ thể (cà rốt) để ngƣời làm thuê phát huy tối đa sức lực trong cơ thể.Mác: sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử 10 dụng nào đó [31, tr. Nếu xác định sức lao động là nguồn gốc sản sinh ra của cải vật chất thì, bất kỳ nhà quản trị nào - tức ngƣời sử dụng sức lao động- luôn “hạch toán” để khai thác tối đa sức lực ngƣời lao động. Chủ thể hạch toán kinh tế tìm kiếm lợi nhuận tối đa, bao giờ cũng hƣớng mọi hoạt động của mình vào công thức chi phí tối thiểu- lợi nhuận tối đa. Sức lao động tiêu dùng phải đƣợc kết tinh trong hàng hóa và phải đƣợc xã hội thừa nhận.
Hao phí lao động cá biệt phải đƣợc chuyển hóa thành hao phí lao động xã hội cần thiết. Chủ doanh nghiệp luôn phấn đấu để chi phí lao động gồm: lao động quá khứ (C) và lao động sống (V) của mình trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn mức trung bình của xã hội, đây chính là cơ sở để hình thành lợi nhuận siêu ngạch. Cũng theo Taylor, hiệu suất hay hiệu quả sử dụng sức lao động còn phụ thuộc vào giá cả sức lao động cụ thể và tìm mọi cách để mua sức lao động rẻ nhất. Ví dụ: nếu lao động cụ thể chỉ sử dụng bộ phận chân, thì chủ lao động sẽ thuê ngƣời lao động cụt tay, vì giá cả sức lao động của ngƣời cụt tay rẻ hơn ngƣời lao động bình thƣờng, nhƣng khi sử dụng hay tiêu dùng sức lao động thì, nhà tƣ bản vẫn bảo đảm khai thác hết công năng của hàng hóa sức lao động khuyết tật - giá rẻ mà lại “cống hiến” nhƣ ngƣời lao động lành lặn.
Động lực lợi nhuận của chủ doanh nghiệp chuyển hóa thành động lực của ngƣời lao động. Dù là lao động tự giác hay bắt buộc, đối với ngƣời lao động đều phải sản sinh ra sức lao động, dƣới con mắt của ngƣời lao động thì lao động tự giác hay bắt buộc không quan trọng, cái ngƣời kinh doanh cần là: giá cả hàng hóa sức lao động rẻ nhất nhƣng giá trị sử dụng của nó lại nhiều nhất. Phƣơng thức quản trị Taylor là bòn rút tối đa sức lực ngƣời lao động với chi phí tƣ bản ít nhất. Động lực của ngƣời lao động trong chủ nghĩa tƣ bản do sức ép của sự sinh tồn, nếu không bán đƣợc sức lao động thì sự tồn tại của bản thân và gia đình bị đe dọa.
Động lực lao động từ sức ép cuộc sống, buộc phải bán đƣợc sức lao động, tức là đƣợc lao động để tạo thu nhập. Với thân phận “trần như 11 nhộng- C.Mác nhận định về ngƣời làm thuê ở chủ nghĩa tƣ bản), tình cảnh “to be or not to be” tồn tại hay không tồn tại, ở chủ nghĩa tƣ bản, ngƣời bán đƣợc sức lao động mới có khả năng tồn tại và ngƣợc lại. Ở đây động lực lao động là bán đƣợc sức lao động để tồn tại. Abraham Harold Maslow (1943), hành vi con ngƣời có điểm xuất phát là nhu cầu sinh lý (ăn uống, mặc, ở.) từ đó bắt buộc phải lao động.
Thế giới động vật săn mồi vì nhu cầu của dạ dày. Con ngƣời là động vật có ý thức vì thế “hành vi kiếm mồi, săn mồi” chuyển hóa thành hoạt động lao động sản xuất. Nhu cầu đƣợc sắp xếp theo thứ tự từ thấp tới cao, cụ thể: (1) Nhu cầu thiết yếu - tƣ liệu sinh hoạt cần thiết; (2) nhu cầu an toàn - bảo đảm sự tồn tại bền vững; (3) nhu cầu xã hội - nhu cầu mang tính ngƣời; (4) nhu cầu về danh dự; (5) nhu cầu tự hoàn thiện. Maslow phân cấp độ về nhu cầu theo thứ tự, thông qua đó tác giả xác định vị trí của từng thành tố trong quá trình thỏa mãn nhu cầu.
Cách tiếp cận đặc thù ở chỗ: những nhu cầu đã thỏa mãn và trở thành bình thƣờng sẽ mất dần tính động lực, chỉ những nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng, ở trạng thái chờ đợi, khao khát mới chuyển hóa thành động lực. Càng thiếu thốn, càng khao khát thì tính động lực càng mạnh mẽ. Trong xã hội hiện đại, đặc biệt chất lƣợng cuộc sống cả vật chất và tinh thần đều tăng lên, do đó việc phân chia cấp độ của nhu cầu để chuyển thành động lực lao động cũng đã có sự “đổi ngôi” và chuyển dần từ lĩnh vực vật chất sang lĩnh vực tinh thần. Ví nhƣ, cố gắng học tập, làm việc tốt hơn để đƣợc thăng tiến lên các vị trí lãnh đạo, điều hành ngày càng có ý nghĩa quyết định hơn so với tăng lƣơng, thêm thƣởng về mặt vật chất hay thu nhập bằng tiền.
Động lực lao động đƣợc hình thành và duy trì thƣờng xuyên sẽ hƣớng sang lĩnh vực chính trị xã hội và văn hóa. Tháp nhu cầu của Maslow, bị hạn hẹp bởi lăng kính “khai thác tối đa” giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, chƣa nhấn mạnh vào sự thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động với tƣ cách là chủ thể sáng tạo. Con ngƣời bên cạnh nhu cầu vật chất còn nhu cầu tinh 12 thần. Sự thỏa mãn nhu cầu tinh thần ngày càng trở thành động lực quan trọng đối với ngƣời lao động.
Tính sáng tạo, phát minh, sáng chế chủ yếu phụ thuộc vào mức độ đáp ứng nhu cầu tinh thần. Nguồn dinh dƣỡng của những sáng chế, phát minh không chỉ chủ yếu là “cá thịt, đƣờng sữa” mà còn là sự hƣng phấn, đức tính say mê và sự động viên khích lệ của đồng nghiệp, ngƣời thân, và ngƣời sử dụng lao động, và cao hơn là cống hiến cho Tổ quốc, giống nòi Lạc Hồng “sánh vai các cường quốc năm châu”. Thuyết công bằng của Adams (1965), đề cập những nhân tố “ngầm”, tác động đến ngƣời lao động thông qua sự nhận xét của cán bộ, lãnh đạo quản lý về ý thức trách nhiệm và kết quả công việc. Thuyết này xem xét đánh giá động lực ngƣời lao động thông qua số lƣợng, chất lƣợng lao động mà cá nhân đó đóng góp.
Căn cứ vào sự nhiệt tình, từ đó ngƣời sử dụng lao động có cách thức phân chia lƣơng, thƣởng phù hợp nhằm đảm bảo sự công bằng theo nguyên lý “làm nhiều hƣởng nhiều, làm ít hƣởng ít” nhƣ cách tiếp cận của các nhà tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội không tƣởng, chủ nghĩa xã hội khoa học…).Cheser, nghiên cứu: Ảnh hƣởng của cách quản lý Kaizen của Nhật Bản lên động lực ngƣời lao động trong ngành sản xuất của Hoa Kỳ, chỉ ra: việc chuyển từ phƣơng pháp quản lý truyền thống sang phƣơng pháp quản lý đƣợc kế thừa từ Nhật (Kaizen) trong các ngành sản xuất của Hoa Kỳ làm năng suất lao động tăng đáng kể. Tập trung cải tiến hiệu suất hoạt động của các khâu trong dây chuyền sản xuất chính là ý tƣởng và mục tiêu chính mà cách quản lý Kaizen hƣớng tới nhằm quản lý, thiết lập đƣợc môi trƣờng làm việc tốt và thúc đẩy tinh thần làm việc của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp có các nền văn hóa khác nhau. Nhóm tác giả Xiaoyun Wang và cộng sự nghiên cứu công trình “Quy cách quản trị nhân sự phƣơng Tây với đòi hỏi cao về hiệu quả công việc khi ở Trung Quốc: một nghiên cứu so sánh giữa các doanh nghiệp quốc doanh, dân 13 doanh và có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài” [130]. Nghiên cứu của nhóm này là áp dụng và trộn lẫn lý thuyết quản trị nhân lực kiểu phƣơng Tây vào Trung quốc, nhìn nhận trong sự so sánh 3 loại hình doanh nghiệp: quốc doanh, dân doanh và FDI.
Lý thuyết hiện đại và đòi hỏi cao của phƣơng Tây áp dụng vào Trung quốc là điều bình thƣờng trong giao thoa và giao lƣu văn hóa, có sự học hỏi vận dụng lẫn nhau về lý thuyết quản trị nhân lực phƣơng Tây và phƣơng Đông. Mục tiêu chung của quản trị nhân lực là tiết kiệm và hiệu quả. Với số lƣợng lao động tiêu dùng ít nhất, có thể tạo ra giá trị tăng thêm nhiều nhất. Quy luật quản trị nhân lực phƣơng Tây, là lý thuyết “duy lý” dựa vào nguyên tắc pháp trị và nhà nƣớc pháp quyền tƣ sản.