CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VE KINH QUR’AN 1. Nguồn sốc, quá trình hình thành và cấu trúc của Kinh Qur'an 1. Nguồn gốc của Kinh Qur'an 1. Bói cảnh ra đời Islam và Kinh Qur'an Kinh Quran, cuốn kinh thánh của Islam, được viết bằng tiếng Ả-rập.
Trong tiếng A-rap, Qur’an nghĩa là “đọc lai” hay “tụng đọc”, được hình thành từ những gi Mohammed tuyên đọc hay đọc lại những lời được coi là của Thượng dé thần khải qua ông đến tín đô, khi ông thuyết giảng về một tôn giáo mới. Nghiên cứu nguồn gốc của Kinh Qur'an không thé tách rời bối cảnh ra đời Islam. Islam được hình thành trên một khu vực địa lý với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và tôn giáo đặc thù. Không có bán đảo nào lớn và khắc nghiệt bằng bán đảo Ả rập.
Chiều dai của bán đảo Ả-rập là 2200km, chiều rộng là 2000km. Về phương diện địa chất, bán đảo đó tiếp tục sa mạc Sahara, là một phần của đai cát đi ngang qua Ba Tư, tới tận sa mac Gobi. Tiếng “4-záp” có nghĩa là khô khan. Về phương diện địa lý, nó là một cao nguyên mênh mông thình lình dựng đứng lên tới ba ngàn thước ở cách biển Hồng Hải năm chục cây số, rồi hạ thấp dần xuống ở phía đông, qua những dãy núi hoang vu tới tận vịnh Ba Tư.
Ở giữa bán đảo nổi lên vài ốc đảo có cỏ, có làng mạc dưới bóng cây kẻ (thốt nốt, cọ, chà là, dừa.) với một vài giếng nước, xung quanh đều là cát mênh mông. Bốn chục năm tuyết mới đồ một lần, ban đêm lạnh tới không độ; ban ngày nắng cháy da, máu muốn sôi lên. Trời gần như ngày nào cũng trong sáng, không khí thì như “rượu vang có bọt”. Bán đảo Ả-rập là một vùng đất không đồng nhất.
Trong vùng đất rất khác nhau này, khác biệt về khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng tạo nên sự khác biệt giữa các nước phía nam (Yêmen, Haddramaout), gần Ấn Độ Dương, có cây trồng phong phú nhờ gió mùa. Phía Bắc và Trung là nơi có ít mưa, có nơi người dân sống định cư, nơi khác dân Bedouin sống du mục. Ở miền Trung, chỉ có các ốc đảo ở mặt Tây là được ưu đãi, các thành phố Yathrib, Taif, Khaibar bao quanh thành phố buôn bán La Mekka, đó là trung tâm của bán đảo Ả-rập. Do bán đảo Ả-rập nằm sát đường giao thông quan trọng giữa Châu Âu, Á, Phi nên sự giao lưu, đặc biệt về văn hoá diễn ra tương đối mạnh mẽ.
Islam ra đời trong bối cảnh chính trị, xã hội trên bán đảo Ả-rập có những biến động lớn. Trước kỷ nguyên Islam, tổ chức chính trị trên bán đảo Ả-rập là một tô chức gia tộc gồm thị tộc và bộ lạc. Mỗi bộ lạc mang tên một ông tô chung tưởng tượng nào đó, ví như bộ lạc Banu - Ghassan tự cho mình là hậu duệ của Ghassan. Trước Mohammed, mặc dù người Hi Lạp gọi tất cả dân chúng trong ban dao là Sarakenoi nghĩa là phương Đông, nhưng thực sự dân cư ở đó không thống nhất về chính trị.
Giao thông khó khăn nên các bộ lạc phải tự trị về mặt kinh tế, và g1ữ tinh cách địa phương hoặc tính cách riêng của bộ lạc. Người Ả-rập chỉ trung thành và có bốn phận với bộ lạc của mình. Mỗi bộ lạc hoặc thị tộc do một vị Sheik thong tri, vi nay duge cac dau muc bau trong một gia đình đã có nhiều đời giàu có hơn, tai tri hơn hoặc chiến dau dũng cảm hơn các gia đình khác. Sự tương tranh giữa các bộ lạc trong quá trình duy trì và phát triển của minh trở nên phố biến.
Mặt khác, cơ cấu xã hội đã bắt đầu có sự phân hoá căn cứ trên tài sản: một cực là tang lớp quý tộc có nô lệ, gia súc, tiền tài; còn cực kia là tầng lớp ban nông và nô lệ ngày càng nghèo khổ và mất hết sự bảo hộ hữu hiệu của bộ lạc. Tình hình đó càng đây nhanh nhu cầu thiết lập một trật tự xã hội mới. Sự tác động của tình hình chính trị bên ngoài đến bán đảo Ả-rập rất lớn. Ba siêu cường cạnh đó là Byzantine, Ethiopia và Ba Tư luôn đối đầu nhau, đã biến Ả-rập thành một vùng xoáy tranh giành ảnh hưởng giữa các thế lực ngoại bang.
Byzantine và Ba Tư vì tranh giành và khống chế con đường buôn bán của A-rập, đã tiên hành cuộc chiên kéo dai mây tram năm. Bat ôn vê mặt chính trị đã thúc day khao khát thối bùng lên lòng tự tôn dân tộc, thực hiện liên minh bộ tộc và xây dựng quốc gia thống nhất. Đây là yêu cầu khách quan của tiến trình lịch sử. Từ khi Ethiopia chiếm được Yêmen và thiết lập sự giám sát của mình đối với việc buôn bán quá cảnh, chặn đứng các con đường dẫn từ Yêmen đến Xyria, Palestin, va Ethiopia qua Hidjaz.
Con đường tơ lụa không còn đi qua tây Ả-rập nữa. Điều này cộng với sự tấn công của các quốc gia và bộ tộc lân cận đã dẫn tới sự suy thoái kinh tế và khánh kiệt của nhiều bộ lạc Ả-rập, làm tăng số người ban cùng, đây nhanh nguy cơ khủng hoảng của xã hội. Bồi cảnh này đã đặt cư dân trên mảnh đất này phải tìm kiếm con đường để ton tại, vi thực tế có nhiều cộng đồng trong lịch sử đã bị diệt vong khi gặp tình huống đó. Trong bối cảnh xã hội đó, bán đảo Ả-rập có một diện mạo văn hoá đặc thù.
Trong đó nổi cộm là cung cách ứng xử giữa con người với con người. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã làm cho kẻ mạnh được tán dương, bản năng bảo tồn sự sống của bản thân và bộ lạc đã lan at sự tôn trọng sự song cua ké khác. Ung xử giữa con người với con người về mat nhân tính bi băng hoại ghê gớm. Sự cướp bóc, hãm hiếp diễn ra thường xuyên và dần được coi là hành vi bình thường.
Trong xã hội đó, địa vị người phụ nữ rất thấp kém. Trẻ em gái có thể bị người cha chôn sống khi mới chào đời. Ở tuổi thanh xuân, người phụ nữ được coi như một nữ thần, tuy nhiên họ cũng chỉ là một động sản thuộc về cha, chồng hoặc con trai, và như mọi động sản khác, họ bị di tặng lại cho đời sau. Luôn luôn họ là tôi tớ, rất ít khi được là bạn trăm năm của đàn ông.
Họ có chức năng chính là “sản xuất” chiến sĩ. Chồng họ có thê đuôi họ đi lúc nào tuỳ ý. Thực trạng văn hoá ứng xử giữa người với người này là một nguy cơ lớn lao cho bán dao A rập. Thực chất của văn hoá là sự thể hiện của nhân tính.
Khi nhân tính trong mỗi con người không được phát huy thì nhân phẩm của 10 người khác cũng không được tôn trọng. Gia tri thực của con người không những không được xem trọng mà nó còn dẫn con người xa rời sự liên kết thực sự với cộng đồng, và do đó làm suy đồi không chỉ về văn hoá mà cả khía cạnh nhân chủng của cộng đồng. Điều này đòi hỏi phải dùng một biện pháp nào đó thực sự hữu hiệu dé khôi phục phẩm giá con người, tạo sự gắn kết cộng đồng nhằm hướng tới những thay đổi to lớn. Sự cát cứ về chính trị và kinh tế giữa các bộ lạc trên bán đảo Ả-rập tất yếu dẫn đến đa thần giáo, là sự bộc lộ rõ nhất sự khủng hoảng hệ giá trị chung trước đòi hỏi thống nhất của cộng đồng.
Dân cư nơi đây sợ và thờ vô số than: thần tinh tú, than mặt trăng và thần trong lòng đất; đôi khi họ cầu khan trời đừng phạt họ. Nhưng xét chung họ rất sợ bọn jinn (quỷ) rất đông ở xung quanh họ, tìm mọi cách dé làm dịu con giận của các jinn. Họ thừa nhận là không hiểu được sự vô biên của vũ trụ. Họ ít khi nghĩ tới sự sống đời sau, nhưng đôi khi họ buộc một con lạc đà bên cạnh m6 ma và không cho nó ăn, dé người chết có lạc đà mà cưỡi.
Thinh thoảng họ giết người dé tế than, và có nơi họ thờ những phiến đá thiêng. Trung tâm của sự thờ phụng là La Mekka. Điện Kaaba ở La Mekka có hơn 300 tượng thần. Một trong những vị thần này tên là Allah, là thần của bộ lạc Qoraich, ba vị thần khác là con gái cua Allah: Al-Uzza, Al-lat, Manah.
Sự thờ phụng đó của người Ả-rập đã có từ thời thượng cổ, và sử gia Hi Lap là Herodote (484 - 425 trước Công nguyên) đã xác nhận điều đó. Bộ lạc Qoraich thờ Allah làm thần chính, như vậy là dọn đường cho tín ngưỡng nhất thần giáo. Họ bảo dân chúng La Mekka rằng Allah là thần đất đai, vậy dân chúng phải đóng thuế cho thần một phần mùa màng và những gia súc con so (con đầu tiên). Trong tín ngưỡng đa thần giáo, mỗi vị thần phản ánh một hệ giá trị, và đáp ứng được nhu cầu của từng cộng đồng riêng rẽ.
Nhưng khi các cộng đồng nhỏ liên kết với nhau, hoà vào nhau dé tạo nên một cộng đông lớn thì nhu câu 11 khách quan là phải có một hệ giá trị chung. Tín ngưỡng đa thần không đáp ứng được nhu cầu đó. Sự khủng hoảng của hệ giá trị chung phát sinh từ nhu cầu của cộng đồng. Việc xây dựng một hệ giá trị chung là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của cộng đồng, dưới hình thức một tôn giáo mới phản ánh được nhu cầu của cộng đồng.
Trước Mohammed, một số người đã ý thức được điều đó, và có những động thái nhất định nhưng kết quả không đáng ké. Ảnh hưởng của các tôn giáo bên ngoài vào ban dao A-rap cũng không nhỏ, đặc biệt là vai trò của Do Thái giáo và Kitô giáo. Dân Do Thái giáo và dân Kitô giáo đã đến sống ở đây: dân Do Thái giáo ở Khaibar và Yathrib, dan Kitô giáo ở Najran, về phía nam hơn. Trong vùng La Mekka, chỉ riêng người Do Thái sống trong các cộng đồng có tổ chức.
Người Kitô giáo vẫn sống tản mát và không có thứ bậc, số lượng này rất ít ngay cả trong thành phó, nơi họ chỉ là những người nô lệ người Abyssinie và thợ thủ công. Nhưng đôi khi có những nhà buôn theo Kitô giáo đến từ Al Hira. Do Thai giáo và Kitô giáo cũng là những tôn giáo của các siêu cường nằm cạnh bán đảo A-rap. Trước khi dao Islam ra đời, nhiều người Ả-rập đã nhận thấy tôn giáo của các siêu cường này “ưu việt” hơn đa thần giáo của họ, nó giúp đoàn kết dân tộc, xây dựng quốc gia hùng mạnh.
Thời đó xuất hiện phái Hanif có khuynh hướng nhất thần luận.