mở đầu chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc. Trong thời kỳ nhà Hạ đã biết khai thác, sáng chế và sử dụng công cụ bằng đồng và có dấu hiệu xất hiện văn tự. Việc phát triển công cụ lao động bằng đồng và tồn tại văn tự có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển của người Trung Quốc. Chăn nuôi và trồng trọt là phương thức sản xuất chính dưới thời nhà Hạ.
Chính vì vậy những quan niệm tín ngưỡng vật linh tồn tại trong thời nguyên thuỷ đã được thay thế bằng những quan niệm sùng bái các lực lượng tự nhiên với các biểu tượng về thượng đế chi phối vạn vật, mang đậm màu sắc duy tâm tôn giáo và gắn liền 13 với tính chất chính trị xã hội và luân lý đạo đức. Có thể thấy rõ sự khác biệt căn bản giữa tôn giáo nguyên thuỷ và tôn giáo dưới triều nhà Hạ - chế độ xã hội có sự phân chia đẳng cấp, đó là: Nếu trong xã hội nguyên thuỷ, những hình thức tôn giáo tối cổ chỉ thể hiện sự khiếp sợ của người dân Trung Quốc trước các lực lượng tự nhiên mạnh mẽ, đầy bí ẩn luôn đe doạ đời sống của con người như sấm sét, bão lũ, hạn hán… Thì nay, tín ngưỡng trong xã hội nhà Hạ đã trở thành công cụ phục vụ cho giai cấp cầm quyền. Giai cấp quý tộc nhà Hạ biến tôn giáo thành công cụ mê hoặc, lừa mị người dân lao động Trung Quốc nhằm xoa dịu những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội. Với chiêu bài thể hiện mệnh lệnh, ý chí của trời trên mặt đất có quyền khen thưởng những ai làm việc thiện và trừng phạt những ai dám chống lại mệnh trời bọn quý tộc nhà Hạ đã áp đặt vị trí thống trị của mình trong xã hội lúc bấy giờ.
Nhà Hạ tồn tại trải qua 16 đời, đến thời vua Lý Quý, đời gọi là Kiệt, do nhà vua đam mê tửu sắc, cai trị bạo ngược nên nhà Hạ nhanh chóng bị suy vong. Đến đầu thế kỷ XVII trước Công nguyên, Thành Thang lật đổ nhà Hạ lập nên nhà Thương hay còn gọi là nhà Ân (do vua tiếp theo của nhà Thương là Bàn Canh dời đô sang đất Ân). Dưới triều đại nhà Ân – Thương nông nghiệp trở thành ngành sản xuất chính của xã hội, nghề đúc đồng thau cũng đã đạt trình độ cao, thủ công mỹ nghệ, nhất là những sản phẩm điêu khắc từ đá, ngọc quý, xương, gỗ đã đạt trình độ khá tinh xảo. Người đời Ân – Thương biết dùng mai rùa, xương thú để bói toán và sáng tạo ra “văn giáp cốt”, biết làm ra lịch pháp để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, biết quan sát thiên văn, giải thích được hiện tượng nhật thực và nguyệt thực, tính được chu kỳ nước dâng, tìm ra quy luật sinh trưởng của các cây trồng mà làm ra âm lịch.
Chính sự phát triển sâu sắc trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp, 14 làm ra lịch pháp, v.v… đã xác lập những điều kiện cho sự phát triển phồn vinh của nền văn hoá Trung Quốc cổ đại. Đến khoảng thế kỷ thứ XII trước Công nguyên, nội bộ triều đình nhà Ân – Thương lâm vào suy thoái ngày càng gay gắt. Bọn quý tộc có thế lực và tiền của ra sức bóc lột và đục khoét của cải của nhân dân, sống xa hoa, trác táng. Ngay cả nhà vua lúc bấy giờ của nhà Ân – Thương là Đế Tân, hiệu là Trụ, tuy dũng mãnh nhưng rất tàn bạo và đam mê tửu sắc, đặt ra nhiều loại thuế khoá nặng nề đè nặng lên đôi vai của người dân nhằm phục vụ cho cuộc sống sa hoa, truỵ lạc của mình.
Trong lúc đó, ở phía Tây đồng bằng Hoa Bắc rộng lớn có một bộ tộc đã nổi lên tên là Chu. Do sở hữu một vùng đất đai phì nhiêu dọc hai bờ con sông Kinh và sông Vị, nên họ ra sức sản xuất nông nghiệp, đồng thời với việc chuẩn bị binh lực, xây thành quách và chinh phục các nước lân cận mở rộng đất đai, bành trướng thế lực của minh. Đến khoảng thế kỷ XI trước Công nguyên Chu Vũ Vương đã nổi dậy diệt vua Trụ nhà Ân – Thương, lập ra nhà Chu, đóng đô tại Hạo Kinh (nằm ở phía Tây thành Tây An ngày nay), thời kỳ này nhà Chu được gọi là Tây Chu. Dưới thời Tây Chu, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ vượt trội hơn hẳn so với thời Ân – Thương.
Nếu nhà Ân – Thương biết sử dụng công cụ lao động bằng đồng, thì nay, nhà Tây Chu đã biết dùng công cụ bằng sắt trong sản xuất nông nghiệp, nên kỹ thuật canh tác đất đai được cải tiến mạnh, hệ thống thuỷ nông hoàn thiện hơn, ruộng đất được khai khẩn ngày một tăng thêm, góp phần rất lớn phát triển nền sản xuất xã hội. Cũng chính sự phát triển của sản xuất đã thúc đẩy nhiều lĩnh vực như thiên văn, lịch pháp, khoa học, kỹ thuật phát triển…Có thể nói, trong giai đoạn đầu thời Tây Chu xã hội Trung Quốc phát triển cực thịnh trên mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Nhà vua tự xưng là “Thiên tử”, là lãnh chúa tối cao chiếm hữu toàn bộ ruộng đất và thống trị thần dân trong nước. Các vị vua nhà Chu lấy hiệu là Văn Vương, Vũ 15 Vương, Thành Vương, Khang Vương, Chiêu Vương, Mục Vương… mang những ý nghĩa riêng biệt khác nhau.
Chữ văn được hiểu như chữ đức khi đi cùng chữ hoà kính và chữ sáng tỏ, chữ vũ mang nghĩa tự cường, chữ thành, khang có nghĩa vững chãi yên bình, chữ chiêu là đức sáng, chữ mục là đức dày… Nhà Chu giai đoạn này xem “đức là lý do làm cho tiên vương có thể sánh với thượng đế và cũng là lý do để tiên vương nhận vương mệnh trị dân” [20, tr. Về việc triều chính, Vua đặt ra nhiều chức quan trông coi những công việc quan trọng để giúp cai trị đất nước như: Tư đồ, Tư mã, Tư không, Tư khấu chuyên phụ trách các việc như giáo dục, hình pháp, chính trị và quân đội. Nhà Tây Chu thực hiện chế độ “phong hầu kiến địa”, “Thiên tử” phân, phong đất đai, chức tước cho anh em, họ hàng và công thần làm chư hầu, để họ cai trị các vùng đất khác nhau, như thế sẽ giúp nhà vua quản lý được mọi nơi. Bên cạnh chế độ “phong hầu kiến địa” nhà vua còn thực hiện chế dộ “tỉnh điền” – ruộng đất được chia thành hình chữ “tỉnh” bao gồm chín mảnh đất hình vuông, trong đó tám mảnh xung quanh được giao cho các gia đình nông nô cày cấy, còn mảnh chính giữa, những gia đình ấy phải cùng nhau canh tác, sản phẩm thu được sẽ thuộc về “Thiên tử”.
Thực chất, chế độ “tỉnh điền” cũng là chế độ nghĩa vụ quân sự. Theo quy định của nhà nước, cứ sáu mươi tư “tỉnh” phải đóng góp một chiến xa, bốn con ngựa, mười hai con bò, bảy mươi hai lính có trang bị vũ khí, lương thực đầy đủ. Với chế độ nghĩa vụ quân sự như vậy đã giúp nhà Tây Chu xây dựng được lực lượng quân sự hùng mạnh. Nhà vua dùng chính lực lượng quân sự đó làm công cụ để áp đặt thể chế của mình rộng khắp đất nước Trung Quốc.
Nhờ đó mà lễ giáo, đạo đức dưới thời Tây Chu được ban bố khắp thiên hạ, trên dưới một lòng, đời sống người dân rất thịnh vượng. Song, sự thịnh vượng, ổn định của nhà Tây Chu không giữ được lâu dài. Ngay trong lúc xã hội yên bình nhất thời vua Thành Vương, Khang Vương đã nãy sinh những mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là 16 những người lao động lam lũ bấp bênh một bên là bọn quan lại thượng lưu chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, tranh giành quyền lực lẫn nhau. “Có kẻ thì nghỉ ngơi an nhàn, có kẻ thì suốt ngày vất vả, có kẻ thì không hề nghe những lời than vãn bên ngoài, có kẻ thì khó nhọc thở không ra hơi.
Có kẻ thì nằm mát thảnh thơi, có kẻ thì việc vua bề bộn. có kẻ thì chè chén vui chơi, có kẻ thì hằng buồn rầu lo sợ” [Kinh thi, Tiểu nhã]. Bọn quý tộc thì an nhàn nghỉ ngơi, ăn chơi xa đoạ, trong khi đó người dân phải lao động khổ cực bán mặt cho đất bán lưng cho trời. “Chúng tôi luôn vì nghĩa vụ đã được quy định bởi thiên tử nhà Chu, suốt ngày cày cấy trên cánh đồng, không một ai giúp cho chúng tôi… Hỡi trời cao thăm thẳm, khi nào chúng tôi mới được sống an nhàn” [Kinh thi, VI, 2].
Trong giai đoạn cuối thời Tây Chu, khi những mâu thuẫn xã hội bị đẩy lên đến cùng cực, khi người lao động bị bóc lột thậm tệ đã tạo ra một làn sóng đấu tranh chống lại bọn thống trị, thổi nên một làn gió nảy sinh các quan điểm tiến bộ nhằm chống lại chủ nghĩa duy tâm và những quan điểm tôn giáo giai đoạn trước đó. Xuất hiện những quan điểm hoài nghi, phê phán những tín điều duy tâm tôn giáo, khiến thế giới quan thần bí và tín ngưỡng tôn giáo cũ giữ vai trò thống trị đời sống tinh thần xã hội đã bắt đầu lung lay “Hỡi thượng đế tối cao vĩ đại! Sao ông chẳng hề thông cảm với sự đau khổ, đói rét và sự chết dần chết mòn của dân?” [Kinh thi, XII, 2]. Xuất phát từ sự hoài nghi, phê phán đi đến kết tội, lên án sự xấu xa, bạo ngược của bọn quý tộc chỉ biết sống hưởng thụ trên xương máu người lao động và đánh giá đúng vai trò quyết định của hoạt động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội. Chính người lao động mới là nguồn sống duy nhất duy trì sự tồn tại của giai cấp thống trị, vì vậy họ còn quan trọng hơn cả trời và quỷ thần.
Họ phê phán những quan điểm cho rằng sống chết có số, giàu sang tại trời và tin rằng con người ta có thể làm chủ linh hồn và vận mạng của mình mà không cần bất kỳ sự phù hộ nào từ quỷ thần. Từ việc hoài nghi, phê phán thế giới quan duy 17 tâm tôn giáo đã xuất hiện các quan niệm duy vật chất phác cho rằng năm yếu tố: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ đã tác động nhau theo hai hướng tương sinh, tương khắc mà cho ra vạn vật; hay quan niệm cho rằng âm và dương mặc dù tương khắc nhưng tương cầu, tương ứng, tương giao, tương thôi, tương thế, tương ma, tương thành mà sản sinh ra vạn vật. Sự xuất hiện của quan niệm âm dương, ngũ hành tạo một lực đẩy quan trọng cho tư duy khoa học của người Trung Quốc cổ đại thoát khỏi thế giới quan duy tâm tôn giáo.