Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lƣợng nguồn nhân lựctrong các tổ chức khoa học công nghệ. Chương 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Chương 3: Định hƣớng và giải phápnâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 9 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1.
Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn nhân lực trong từng con ngƣời, bao gồm trí lực và thể lực [10,tr. Trí lực nó thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con ngƣời đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp chân tay. Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng con ngƣời và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội. Theo thuật ngữ trong tài liệu tham khảo của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, ngành hay một vùng.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, xã hội”. Nguồn nhân lực trong một tổ chức chính là tập hợp những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó. Nó đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò, nhiệm vụ khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con ngƣời và do chính giá trị sức lao động của con ngƣời tạo ra.
Nhằm nâng cao vai trò của con ngƣời, của nguồn nhân lực trong tổ chức thì việc cần quan tâm đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực sẽ là một yếu tố cần thiết và quan trọng đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực đƣợc xem xét, đánh giá dựa trên góc độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng nguồn nhân lực sẽ đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Chất lƣợng nguồn nhân lực sẽ là tổng 10 e thể những đặc trƣng, phản ánh bản chất tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động trực tiếp sản xuất và phát triển của con ngƣời.Đây là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái nhƣ thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực.Việc nghiên cứu về nguồn nhân lực sẽ phải xem xét, đánh giá cả hai mặt: chất lƣợng và số lƣợng.
Xem xét từ các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng những khái niệm này đều thống nhất trên cơ sở nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội của mọi quốc gia. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ 1. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học công nghệ 1. Khái niệm tổ chức khoa học công nghệ Theo Luật KHCN năm 2013 thì tổ chức khoa học công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, đƣợc thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật[14, tr.
Khái niệm nguồn nhân lực khoa học công nghệ Thực ra, nói về nguồn nhân lực khoa học công nghệ - vấn đề này đã đƣợc nghiên cứu ở nƣớc ta khoảng giữa những năm 80, dƣới tên gọi: cán bộ khoa học - kỹ thuật. Tuy nhiên, vì rất nhiều lý do, khái niệm đó hầu nhƣ không còn thích hợp với hiện tại. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học công nghệ: Nhân lực KHCN có thể đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Theo cuốn KHCN Việt Nam 2003 và cuốn “Cẩm nang về đo lƣờng nguồn nhân lực KHCN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì nhân lực KHCN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong những điều kiện sau đây: 11 e - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KHCN; - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhƣng không làm việc trong một ngành KHCN nào; - Chƣa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhƣng làm một công việc trong một lĩnh vực KHCN đòi hỏi trình độ tƣơng đƣơng.
Đây là khái niệm nhân lực KHCN theo nghĩa rộng. Theo đó có thể hiểu nhân lực KHCN bao gồm cả những ngƣời đã tốt nghiệp đại học nhƣng không làm việc trong lĩnh vực KHCN. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau và cũng có thể đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm nhân lực KHCN cơ bản đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Nhân lực KHCN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động KHCN với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, của sự phát triển sản xuất và xã hội.
Đặc điểm nguồn nhân lực khoa học công nghệ Theo Luật KHCN năm 2013 và những quan điểm của Bộ Khoa học và Công nghệ thì nhân lực KHCN đƣợc chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sƣ nghiên cứu). Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tƣơng đƣơng nhƣ nhà nghiên cứu/nhà khoa học. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tƣơng đƣơng. Nhóm này bao gồm những ngƣời thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KHCN - Nhóm 3: Trí thức ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và chuyên gia nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam.
Quan hệ giữa nhân lực KHCN và nhân lực nói chung có thể đƣợc thể hiện nhƣ sau: 12 e Nhân lực nghiên cứu phát triển Nhân lực khoa học và công nghệ Nhân lực có trình độ đang làm việc Tổng số nhân lực Sơ đồ 1.1: Quan hệ trong nguồn nhân lực (Nguồn Ban Tổ chức – Cán bộ, 2018) Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy nhân lực KHCN là một phần trong nguồn nhân lực và đặc điểm của nguồn nhân lực này là có trình độ cao, làm việc chủ yếu trong những lĩnh vực đòi hỏi sự nghiên cứu để tìm ra cái mới hoặc phát triển cái cũ lên một mức cao hơn. Do vậy, các lực lƣợng tham gia nghiên cứu KHCN ở nƣớc ta gồm 5 lực lƣợng chủ yếu sau đây: - Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trƣờng đại học; - Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sƣ, kỹ sƣ trƣởng, tổng công trình sƣ) làm việc trong các doanh nghiệp; - Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; - Cán bộ quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình; - Trí thức ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và các chuyên gia nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam. Từ việc phân tích, làm rõ đặc điểm của nguồn nhân lực KHCN, theo tác giả của luận văn thì đó là một công việc vô cùng quan trọng. Chỉ có trên cơ sở phân tích đặc điểm của nhân lực KHCN mới thấy rõ đây là một dạng lao động đặc thù và cần phải có những cơ chế, chính sách phù hợp mới có thể phát huy cao nhất tiềm năng của nguồn nhân lực này.
Nhân lực KHCN có những đặc điểm sau đây: 13 e - Lao động trí óc: Lao động trí óc là lao động không phải ngƣời nào cũng có khả năng nhƣ nhau và không phải lúc nào cũng phát huy đƣợc lao động này với cƣờng độ làm việc và tạo ra sản phẩm nhƣ nhau. Đánh giá hiệu quả của lao động trí óc phụ thuộc khá nhiều vào khả năng bộ não của ngƣời lao động, vào quá trình đào tạo, tâm lý, sự hài lòng, thậm chí cả vào động cơ của chính ngƣời lao động. Có thể xem xét yếu tố lao động trí óc trong 3 lĩnh vực nhƣ sau: + Lao động KHCN + Lao động quản lý. + Lao động nghệ thuật Những đặc trƣng của lao động trí óc bao gồm: Khả năng lao động trí óc không phải ai cũng có, không phải lúc nào cũng xuất hiện; Lao động trí óc không đƣợc sử dụng đúng lúc thì khả năng lao động trí óc sẽ giảm, thậm chí mất đi; Những điều kiện cần cho lao động trí óc đó là: có năng khiếu, kiên trì lao động và sáng tạo, đƣợc đào tạo đồng bộ, thoải mái về mặt tinh thần, tự do tƣ duy sáng tạo; Nói chung, hiệu quả của lao động trí óc phụ thuộc cả thể lực lẫn trí lực của ngƣời lao động trí óc.
- Lao động có tính sáng tạo: Lao động nghiên cứu KHCN là một loại lao động sáng tạo. Sáng tạochính là hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra một sản phẩm mới và đƣợc xã hội chấp nhận. Tính sáng tạo thể hiện: + Yếu tố mới + Yếu tố hữu dụng + Yếu tố phương pháp khoa học Đúng vậy, sáng tạo trong KHCN không thể không bằng phƣơng pháp khoa học. Chính yếu tố này là yếu tố để phân biệt lao động nghiên cứu KHCN với các dạng lao động sáng tạo khác.
Nghiên cứu khoa học và sáng tạo là mối liên hệ mật thiết với nhau, quá trình của công tác nghiên cứu khoa học chính là quá trình sáng tạo tri thức. 14 e Do đó, việc đánh giá trình độ cao thấp của thành quả nghiên cứu khoa học chủ yếu là xem độ lớn nhỏ của thành phần tính sáng tạo chứa trong nó: tính sáng tạo càng lớn, trình độ càng cao và ngƣợc lại. - Lao động mang tính mạo hiểm cao: Tính mạo hiểm vốn là đặc trƣng cho tất cả các hoạt động của con ngƣời mà khả năng thành công của nó là không chắc chắn. Khả năng thành công càng không chắc chắn bao nhiêu thì có nghĩa là độ mạo hiểm càng cao bấy nhiêu.
Tính mạo hiểm càng tăng khi mà khả năng thành công vẫn không chắc chắn, trong khi lƣợng đầu tƣ về vốn và thời gian lại lớn.