Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC NGÂN HÀNG 1. Cơ sở lý luận về nhân lực và quản lý nhân lực trong ngân hàng 1. Khái niệm về nhân lực Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiêu ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. “Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, ché độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.
của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói đã được khai thác gần tới mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người mới còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, và đây là kho tàng bí ẩn của mỗi con người” [11, tr. Trên phạm vi quốc gia, nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động.
Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể. Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, 5 hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội. Vậy nhân lực là lực lượng người lao động với kỹ năng nhất định đê làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trưòng có nhu cầu.
Khái niệm về quản lý nhân lực Có nhiều cách hiểu về quản lý nhân lực do cách tiếp cận và nhận thức khác nhau. Theo quan điểm truyền thống, “quản lý nhân lực là quản lý con người về mặt hành chính; là hoạt động áp dụng các nguyên tắc pháp định về trả lương, nghi phép, nghỉ lễ, hưu trí, nhằm mục đích quản lý con người”. Xét theo góc độ các chức năng cơ bản của quá trình quản lý thì quản lý nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động để có thể đạt được các mục tiêu của tố chức. Đi sâu vào nội dung hoạt động của quản lý nhân lực có thể hiểu quản lý nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức đó.
Theo quan điểm hiện đại, “Quản lý nhân lực là toàn bộ các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý có liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và cán bộ công nhân viên”. Quản lý nhân lực đòi hỏi phải có tầm nhìn về chiến lược và gắn liền với những kế hoạch, chiến lược hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Quản lý nhân lực là việc khai thác, sử dụng nguồn nhân lực của một tổ chức một cách hợp lý, hiệu quả. Công tác quản lý nhân sự giúp tìm kiếm, phát triển và duy trì đội ngũ nhân viên và quản lý chất lượng - những người tham 6 gia tích cực vào sự thành công của công ty.
Các tổ chức trông mong vào các nhà chuyên môn về quản lý nhân sự giúp họ đạt được hiệu quả và năng suất cao hơn với một hạn chế về lực lượng lao động. Một trong những yêu cầu chính của quản lý nhân sự là tìm ra đúng người, đúng số lượng và đúng thời điểm trên các điều kiện thỏa mãn cả doanh nghiệp và nhân viên mới. Khi lựa chọn được những người có kỹ năng thích hợp làm việc ở đúng vị trí thì cả nhân viên lẫn công ty đều có lợi [14] Quản lý nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Ngày nay, khái niệm hiện đại về Quản lý nhân lực là: “Quản lý nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được những mục tiêu của cá nhân”.
Dù ở giác độ nào, Quản lý nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt chất lượng lẫn số lượng. Đối tượng của quản lý nhân lực là người lao động với tư cách là những cá nhân cán bộ, công nhân, viên chức trong tổ chức và các vấn đề có liên quan đến họ như công việc và các quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức. Vai trò và chức năng của quản lý nhân lực 1. Vai trò của quản lý nhân lực Bất kỳ một tổ chức nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý cũng đều phải hội đủ các yếu tố, đó là nhân lực, vật lực và tài lực.
Trong đó, nhân lực đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định tới sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Quản lý nhân lực là bộ phận cấu thành 7 và không thể thiếu của quản lý kinh doanh, là nguyên nhân của sự thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc quản lý. Quản lý nhân lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng góp nhiều nhất cho tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội phát triển không ngừng cho chính bản thân người lao động.
“Quản lý nhân lực đóng vai trò trung tâm trong quá trình điều hành hoạt động, giúp tổ chức có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh. Vai trò trọng tâm này xuất phát từ vai trò của con người: con người là yếu tố cấu thành tổ chức; bản thân con người vận hành tổ chức và con người quyết định sự thành bại của tổ chức. Chính vì vai trò quan trọng của nhân lực nên quản lý nhân lực là một lĩnh vực quan trọng trong mọi tổ chức” [10, tr.6] Quản lý nhân lực là hoạt động nền tảng để trên cơ sở đó, triển khai các hoạt động quản lý khác. Mọi quản lý, suy đến cùng đều là quản lý con người.
Các chức năng cơ bản của quản lý nhân lực Các hoạt động chính của Quản lý nhân lực tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau đây: Chức năng thu hút, tuyển chọn và bố trí nhân lực: Nhóm chức năng này nhằm đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các trình độ, kỹ năng, phẩm chất phù hợp cho công việc của tổ chức và bố trí họ vào đúng công việc để đạt được hiệu quả cao nhất. Thực hiện tốt chức năng này sẽ giúp tổ chức có đủ đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt; giúp tổ chức duy trì ổn định hoạt động và đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra; cũng giúp đơn vị tận dụng tối đa nguồn nhân lực trong tổ chức và tiết kiệm chi phí cho việc tìm được cán bộ nhân viên phù hợp cho nhu cầu công việc tại đơn vị với chi phí thấp nhất. Ngược lại cũng có thể dẫn đến suy yếu nguồn nhân lực, 8 hoạt động kém hiệu quả, lãng phí nguồn nhân lực, khó đạt được mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. Chức năng đào tạo và phát triển: Nhóm chức năng này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong tổ chức có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tôi đa các năng lực cá nhân.
Nhóm chức năng đào tạo và phát triển thường thực hiện các hoạt động như hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho nhân viên; bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Chức năng duy trì và sử dụng nhân lực Chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nhân lực trong đơn vị. Chức năng này hướng đến sự phát huy tối đa khả năng làm việc của nhân viên đồng thời tạo ra sự gắn bó trung thành với tổ chức. Nhóm chức năng này liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong đơn vị làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao.
Giao cho nhân viên những công việc mang tính thách thức cao, cho nhân viên biết sự đánh giá của cán bộ lãnh đạo về mức độ hoàn thành và ý nghĩa của việc hoàn thành công việc của nhân viên đối với hoạt động của đơn vị, trả lương cao và công bằng, kịp thời khen thưởng các cá nhân có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có đóng góp làm tăng hiệu quả hoạt động của đơn vị,. là những biện pháp hữu hiệu để thu hút và duy trì đội ngũ lao động lành nghề cho đơn vị. Chức năng thông tin và dịch vụ về nhân lực (Quan hệ lao động) Chức năng này nhằm cung cấp các thông tin có liên quan đên người lao động thực hiện các dịch vụ mang tính phúc lợi cho nhân viên.