Mở đầu”, “Kết luận” và 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Bà Ria-Vũng Tàu giai đoạn 2015-2019 Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Bảo hiểm xã hội Tinh Bà Ria-Vũng Tau 7 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE CHAT LUQNG NGUON NHÂN LUC KHOA HOC VA CONG NGHE 1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực là sức lực cong người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thé con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động — con người có sức lao động _ Theo Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực trường ĐH Kinh Tế.
Khái niệm nguồn nhân lực * Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tinh sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” Theo Liên Hợp Quốc. Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên_ Ngân hàng thế giới.
Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động _Tô chức lao động thế giới. * Nguồn nhân lực được hiểu: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguôn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thê phát triên bình thường. Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuôi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thẻ tham gia vào quá trình lao động, là tong thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động, về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cau tìm việc làm, những người trong độ tuôi lao động quy định nhưng đang đi học. Vậy theo khái niệm này, Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuôi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Dưới góc độ kinh tế chính tri: tong hoa thê lực vả trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia là nguồn nhân lực, mà trong đó kết tỉnh truyền thông và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chat va tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Khoa học và công nghệ 1. Khái niệm Khoa học Tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp và theo đó có nhiều cách hiểu khác nhau: Mức độ chung nhất, có thé hiểu khoa học là một hệ thống tri thức về thế giới khách quan. Ở nước ta, theo Luật Khoa học và Công nghệ (được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa x, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 9/6/2000): Khoa học là hệ thống trí thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ở góc độ hoạt động, có thê hiểu khoa học là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người. Là một loại hình hoạt động có mục đích khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống xã hội. Ở góc độ này về thực chất, khoa học được hiểu là hoạt động nghiên cứu, là quá trình tạo ra tri thức mới cho nhân loại. Như ta đã nói khoa học là những phát minh của con người vì những phát minh này không thể trực tiếp áp dụng vào sản xuất nên không có đảm bảo độc quyền không phải là đối tượng để mua và bán.
Các tri thức khoa học có thể được phô biến rộng rãi. Khoa học thường được phân loại theo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội: Khoa hoc tự nhiên khám phá nhưng quy luật của tự nhiên xung quanh chúng ta; Khoa học xã hội nghiên cứu cách sông cách hành động và ứng xử của con người. Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất. Vì vay, con người có khả năng đưa khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Quá trình đổi mới khoa học công nghệ đang diễn ra tại Việt Nam. Bao gồm nhiều mặt nhiều dạng hoạt động nhưng tập trung vào đổi mới công nghệ, nhập công nghệ mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải tiền và sáng tạo ra công nghệ. Thiết bị kĩ thuật phương pháp chế tạo sản phẩm sự am hiểu công nghệ mới, tổ chức, quản lý công nghệ mới quá trình đôi mới công nghệ được diễn ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các công ty hợp tác xã các ngành các địa phương. Hai hướng đổi mới công nghệ: là đổi mới công nghệ sản phẩm và đôi mới quy trình công nghệ sản xuất, Đặc điểm của vật tư khoa học như sau: Trình độ kỹ thuật rất cao; Tần suất sử dụng lao động thấp; Tốc độ hao mòn vô hình rất cao.
Vật tư và lao động không định mức được. Khái niệm Công nghệ “Công nghệ”: được xuất phát từ chữ hy lạp “techne" có nghĩa là một nghệ thuật hay một kỹ năng và “logia” có nghĩa là một khoa học hay một nghiên cứu. 10 Trước đây tại Việt Nam, thường có quan niệm cho rằng “công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lời”. Nhưng phô biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, là khái niệm về công nghệ đã được quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ.
Là: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình ký năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 1. Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ theo UNESCO Khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN là: “Tổng số nhân lực có trình độ” và “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác”. Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là: “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại lượng đo, bởi qua đó có thê biết được tông số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ su, bat kế hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không.
Nói cách khác, đại lượng nay thé hiện cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KH&CN. Tổng số nhân lực có trình độ chính là chỉ số nhân lực KH&CN. “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước. Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác chính là chỉ số nhân lực nghiên cứu phát triển.
Theo đó, nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người, mà bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yêu tô khác như: quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent, FTE) và các đặc trưng của họ. Những người này bao gồm các “nhà khoa học và kỹ sư”, “kỹ thuật viên” và “nhân viên hỗ trợ”Cụ the: (1) Nhà khoa học và kỹ sư là người có năng lực phù hợp tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN của đơn vị thống kê nhằm tạo ra những tri thức, sản phâm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. Người có “năng lực phù hợp” là người có thê đạt được một trong 3 tiêu chí sau: Có trình độ đại học trở lên (tương ứng với trình độ từ bậc 6 trở lên theo Phân loại quốc tế về giáo dục và dao tao (Bang 1.1)); Có trình độ cao đăng (tương ứng với trình độ bậc 5 (Bảng 1.1)), nhưng được công nhận về mặt chuyên môn như một nhà chuyên môn bậc cao; Có trình độ học vấn hoặc đạt được trình độ chuyên môn mà được công nhận tương đương một trong hai tiêu chí ở trên. (2) Kỹ thuật viên là người tham gia hoạt động KH&CN và có trình độ trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp trở lên.
Kỹ thuật viên là người thỏa mãn một trong 3 tiêu chí sau: Tốt nghiệp trung học phô thông (bậc 3 (Bảng 1.1)) va sau đó được đào tạo 1-2 năm chuyên về kỹ thuật; Tốt nghiệp trung học cơ sở (bậc 2 (Bảng I.1)) và được đào tạo về kỹ thuật hoặc nghề ít nhất 03 năm; Được đào tạo tại chức hoặc tự có được trình độ chuyên môn được công nhận tương đương với một trong hai tiêu chí nêu ở trên. (3) Nhân viên hỗ trợ là người làm công việc văn phòng, thư ký, quản trị nhân sự, tài chính, có trình độ chuyên môn hoặc không có trình độ chuyên môn. tham gia phục vụ trực tiếp hoạt động KH&CN của đơn vị thống kê.