Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2007-2011, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng với tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) tăng bình quân 15,1%/năm, kéo theo quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Quá trình này khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể từ 44.455 ha năm 2007 xuống còn 41.455 ha năm 2011 (giảm 3.000 ha), tác động trực tiếp tới đời sống của hơn 30% số hộ và 25% nhân khẩu toàn tỉnh. Với quỹ đất canh tác bình quân chỉ còn dưới 500m2/người và dự báo tiếp tục giảm xuống mức 32.000 ha vào năm 2020, ngành nông nghiệp địa phương đối mặt với áp lực cấp bách: phải chuyển dịch mạnh mẽ từ chiều rộng sang chiều sâu thông qua ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, hoạt động chuyển giao công nghệ tại tỉnh vẫn gặp nhiều rào cản do năng lực của các tổ chức khoa học địa phương còn hạn chế, thiếu cơ chế tài chính linh hoạt và liên kết giữa bốn nhà chưa bền vững.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai đẩy mạnh chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong phạm vi thời gian từ năm 2007 đến năm 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học giúp địa phương tối ưu hóa nguồn lực đầu tư khoa học công nghệ, bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao giá trị sản xuất trên một hecta đất nông nghiệp từ 49,0 triệu đồng năm 2007 lên 97,3 triệu đồng năm 2011, duy trì nhịp độ tăng trưởng nông nghiệp đạt 2,93%/năm trong bối cảnh công nghiệp hóa nhanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý công nghệ hiện đại, trọng tâm là mô hình bốn thành phần công nghệ của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) và Nawar Sharif (1986), bao gồm: phần kỹ thuật (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin (Infoware) và phần tổ chức (Orgaware). Luận văn kết hợp lý thuyết khoa học chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm (2011) về chuỗi tác động chính sách (trực tiếp, nối tiếp, kế tiếp, gián tiếp và ngoại biên) cùng nguyên lý cân bằng lợi ích Nash nhằm xây dựng các giải pháp hài hòa lợi ích giữa cơ quan khoa học, doanh nghiệp và nông dân.

Về mặt thể chế và pháp lý, nghiên cứu bám sát Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học công nghệ. Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được phân tích chuyên sâu gồm: năng lực công nghệ và trình độ công nghệ; hai mô hình chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (từ viện nghiên cứu đến hộ sản xuất) và chiều ngang (giữa các doanh nghiệp); bốn cấp độ chuyển giao từ chuyển giao kiến thức, chìa khóa trao tay đến sản phẩm trao tay và thị trường trao tay; cùng các dạng hợp đồng li-xăng (License) độc quyền, không độc quyền và cơ chế chi trả theo kỳ vụ (Royalty) nhằm phân tán rủi ro thương mại hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo tổng kết 15 năm hoạt động khoa học công nghệ tỉnh Bắc Ninh (1997-2012) và hồ sơ của 59 nhiệm vụ khoa học nông nghiệp giai đoạn 2007-2011. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát định lượng với cỡ mẫu 60 đối tượng đại diện, bao gồm: 10 tổ chức nghiên cứu và triển khai Trung ương, 10 đơn vị sự nghiệp và trạm khuyến nông địa phương, 10 hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp, cùng 30 hộ nông dân tiếp nhận công nghệ trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm lựa chọn chính xác các chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi chuyển giao. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân và Phòng Kinh tế các huyện, thị xã. Phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và so sánh định lượng được lựa chọn vì tính chính xác cao, cho phép bóc tách cấu trúc phân bổ 68,429 tỷ đồng ngân sách sự nghiệp khoa học và đánh giá khách quan hiệu quả mô hình trong chu kỳ nghiên cứu 5 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khoa học và công nghệ là đòn bẩy bù đắp hiệu quả cho việc sụt giảm diện tích đất canh tác. Mặc dù diện tích gieo cấy lúa giảm 4.727 ha, sản lượng lúa toàn tỉnh năm 2011 vẫn tăng 48.025 tấn nhờ năng suất lúa bình quân tăng từ 53,6 tạ/ha lên 63,1 tạ/ha/vụ (nhiều giống lúa lai đạt 75-80 tạ/ha/vụ). Tổng giá trị sản xuất trên một hecta đất nông nghiệp tăng từ 49,0 triệu đồng năm 2007 lên 97,3 triệu đồng năm 2011 (tăng 98,5%), đưa giá trị sản xuất toàn ngành đạt 2.307 tỷ đồng (giá cố định 1994).

Thứ hai, trong tổng kinh phí 68,429 tỷ đồng chi cho sự nghiệp khoa học của tỉnh giai đoạn 2007-2011, lĩnh vực nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu với 59 trên 116 đề tài, dự án (chiếm 50,8% số nhiệm vụ) với kinh phí ngân sách cấp là 25,21 tỷ đồng (chiếm 51,5% tổng chi R&D). Trong đó, các viện và trường Trung ương đóng vai trò chủ đạo khi chủ trì 28 đề tài với tổng kinh phí 30,879 tỷ đồng (ngân sách tỉnh hỗ trợ 16,6 tỷ đồng, chiếm 53,8%), trong khi các đơn vị khoa học địa phương chủ trì 19 đề tài với tổng vốn 8,42 tỷ đồng (ngân sách hỗ trợ 4,91 tỷ đồng, chiếm 58,3%).

Thứ ba, các mô hình công nghệ cao mang lại tỷ suất lợi nhuận vượt trội: 17 mô hình nhà lưới ứng dụng công nghệ sinh học (quy mô trên 66.000 m2) tại 8 huyện, thị xã đạt doanh thu 300-500 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có mô hình đạt 1 tỷ đồng/ha/năm; tỷ lệ bò lai Sind đạt trên 73%, đàn lợn nạc chiếm xấp xỉ 100%; mức độ cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch lúa đạt 70-80% với hơn 4.900 máy cày và 60 máy gặt đập liên hợp.

Thứ tư, 100% kinh phí chuyển giao công nghệ của các viện, trường Trung ương phụ thuộc vào ngân sách nhà nước hoặc tài trợ, hoàn toàn vắng bóng sự chi trả trực tiếp từ người nông dân.

Thảo luận kết quả

Sự phân bổ nguồn lực nghiêng mạnh về các tổ chức Trung ương (chiếm 59,9% tổng kinh phí nghiên cứu) cho thấy địa phương đã tận dụng tốt nguồn chất xám đầu ngành từ các viện, trường lân cận Hà Nội. Tuy nhiên, tình trạng bao cấp nghiên cứu kéo dài khiến nhiều nhà khoa học có xu hướng cung cấp những giải pháp sẵn có thay vì giải quyết bài toán thị trường đòi hỏi, dẫn đến nguy cơ công trình khoa học bị cất góc tủ sau khi nghiệm thu. Ngược lại, hệ thống nghiên cứu địa phương bám sát thực tế nhưng quy mô vốn nhỏ (bình quân 443 triệu đồng/đề tài so với 1,1 tỷ đồng/đề tài của khối Trung ương), năng lực đội ngũ hạn chế nên chủ yếu dừng lại ở việc tập huấn kỹ thuật đơn giản.

Để làm rõ các luận điểm trên, dữ liệu có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu nguồn vốn (ngân sách nhà nước và vốn đối ứng của dân, doanh nghiệp) giữa bốn nhóm chủ thể chủ trì đề tài, kết hợp với đồ thị đường thể hiện tương quan nghịch giữa sự suy giảm diện tích đất canh tác (giảm 7,2%) và sự gia tăng giá trị sản xuất trên một hecta đất nông nghiệp (tăng 98,5%). Cách biểu diễn này khẳng định khoa học công nghệ chính là nhân tố quyết định bảo đảm an ninh lương thực và gia tăng giá trị ngành nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực chuyển giao của các đơn vị khoa học công nghệ địa phương: Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Nội vụ hoàn thiện đề án tự chủ cho Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; giai đoạn 2013-2015 tập trung đào tạo chuyên sâu ít nhất 50 cán bộ kỹ thuật trình độ cao, làm chủ 100% các quy trình công nghệ sinh học sản xuất giống hoa cấy mô, khoai tây sạch bệnh và nấm dược liệu.

Thứ hai, đổi mới cơ chế tài chính và kích cầu thị trường công nghệ nông nghiệp: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành nghị quyết hỗ trợ 30-50% kinh phí chuyển giao công nghệ hoặc mua quyền sử dụng công nghệ (License) cho các hợp tác xã và trang trại; giai đoạn 2013-2020 đặt mục tiêu huy động từ 25 đến 30 tỷ đồng vốn đối ứng từ khu vực tư nhân vào các dự án chuyển giao nông nghiệp.

Thứ ba, phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và liên kết bốn nhà: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì hỗ trợ thành lập tối thiểu 3 đến 5 doanh nghiệp khoa học công nghệ theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP trước năm 2015; hướng dẫn các bên áp dụng hình thức thanh toán theo kỳ vụ (Royalty) trong hợp đồng chuyển giao nhằm gắn kết trách nhiệm và chia sẻ rủi ro giữa nhà khoa học và người sản xuất.

Thứ tư, đổi mới quy trình xác định và nghiệm thu nhiệm vụ khoa học: Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng độc lập từ nhu cầu thực tiễn của các vùng sản xuất chuyên canh; chuyển tiêu chí đánh giá nghiệm thu từ cấp độ chìa khóa trao tay sang sản phẩm trao tay và thị trường trao tay, bảo đảm mỗi công nghệ chuyển giao phải nâng cao thu nhập cho nông dân tối thiểu 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách tại các Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc và giải pháp điều hành ngân sách nhằm xây dựng các cơ chế hỗ trợ phát triển nông nghiệp đô thị, chính sách ươm tạo doanh nghiệp công nghệ và tiêu chí tuyển chọn nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo và chuyên gia tại các viện nghiên cứu, trường đại học khối nông lâm ngư nghiệp. Tài liệu giúp nhận diện rõ các rào cản thương mại hóa từ phía người sử dụng, từ đó định hướng nghiên cứu bám sát nhu cầu thị trường và áp dụng linh hoạt các điều khoản li-xăng công nghệ.

Nhóm thứ ba là chủ doanh nghiệp, giám đốc hợp tác xã và chủ trang trại nông nghiệp. Nhóm đối tượng này có thể học hỏi kinh nghiệm triển khai các mô hình kinh tế hiệu quả cao (như nhà lưới công nghệ sinh học, nuôi cá rô phi đơn tính NOVIT4) và kỹ năng đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ theo hình thức trả chậm theo kỳ vụ (Royalty).

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Chính sách công và Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu chính sách, kỹ thuật thiết kế mẫu khảo sát 60 chủ thể và bộ số liệu thực chứng giai đoạn 2007-2011.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất trong hoạt động chuyển giao công nghệ nông nghiệp tại Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011 là gì? Rào cản chính là 100% kinh phí chuyển giao của các viện nghiên cứu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, thiếu vắng cơ chế thị trường và sự tham gia góp vốn của người sản xuất. Đồng cạnh đó, năng lực của các tổ chức khoa học địa phương còn yếu, khiến việc duy trì và nhân rộng mô hình sau khi kết thúc đề tài gặp rất nhiều khó khăn.

Vì sao hình thức thanh toán theo kỳ vụ (Royalty) được khuyến khích áp dụng cho nông dân? Hình thức thanh toán theo kỳ vụ tính phí chuyển giao dựa trên tỷ lệ phần trăm doanh thu hoặc lợi nhuận bán sản phẩm thực tế hàng năm. Phương thức này giúp giảm bớt gánh nặng tài chính ban đầu cho nông dân, đồng thời buộc bên chuyển giao phải có trách nhiệm đồng hành và bảo đảm công nghệ vận hành hiệu quả suốt chu kỳ sản xuất.

Các viện và trường đại học Trung ương giữ vị thế như thế nào trong hoạt động chuyển giao tại địa phương? Các viện, trường Trung ương giữ vai trò trụ cột khi thực hiện 28 trên 59 đề tài nông nghiệp của tỉnh với tổng kinh phí 30,879 tỷ đồng (chiếm 59,9% tổng vốn R&D). Khối viện, trường đã chuyển giao thành công nhiều quy trình tiên tiến như sản xuất giống lúa chất lượng cao (PTE1, XT28), ghép cà chua trên gốc cà tím và nuôi cá rô phi NOVIT4.

Ứng dụng công nghệ sinh học mang lại những bước tiến kinh tế nổi bật nào cho nông nghiệp tỉnh? Công nghệ sinh học đã thúc đẩy xây dựng 17 mô hình nhà lưới trên diện tích 66.000 m2, đạt doanh thu 300-500 triệu đồng/ha/năm. Trong chăn nuôi, chương trình Sind hóa đàn bò đạt tỷ lệ trên 73% giúp tăng trọng lượng 20-40%, chương trình nạc hóa đưa tỷ lệ lợn nạc lên xấp xỉ 100% với tỷ lệ nạc đạt 42-47%.

Doanh nghiệp khoa học công nghệ nông nghiệp được hưởng những ưu đãi cụ thể nào theo quy định? Căn cứ Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp khoa học công nghệ được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghệ cao, được ưu tiên giao quyền sử dụng hoặc sở hữu kết quả nghiên cứu của nhà nước, tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi và sử dụng miễn phí trang thiết bị tại các phòng thí nghiệm trọng điểm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công nghệ và khoa học chính sách, làm rõ vai trò thiết yếu của việc chuyển giao công nghệ nhằm bù đắp suy giảm đất nông nghiệp do đô thị hóa.
  • Phân tích thực chứng kết quả 59 đề tài nông nghiệp giai đoạn 2007-2011 với tổng kinh phí 25,21 tỷ đồng, chứng minh đóng góp của khoa học công nghệ trong việc nâng giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 97,3 triệu đồng.
  • Nhận diện toàn diện các hạn chế về cơ chế quản lý tài chính bao cấp, sự chênh lệch năng lực giữa tổ chức Trung ương và địa phương, cùng sự lỏng lẻo trong liên kết bốn nhà.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách đồng bộ về nâng cao năng lực tổ chức, ưu đãi tài chính, phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và đổi mới phương thức đặt hàng với lộ trình thực thi đến năm 2020.
  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực tế từ 60 đối tượng, đóng góp tư liệu khoa học quý giá cho các nhà quản lý trong việc thiết kế chính sách nông nghiệp công nghệ cao.

Các cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu cần khẩn trương phối hợp thể chế hóa các giải pháp này vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực bứt phá cho nông nghiệp địa phương trong kỷ nguyên mới.