Chương 1. Cơ sở lý luận về quy trình xét duyệt đề tài NCKH trong hoạt động quản lý KH&CN Chương 2. Hiện trạng quy trình xét duyệt đề tài NCKH tại Thái Bình Chương 3. Giải pháp đổi mới quy trình xét duyệt đề tài NCKH theo định hướng nhu cầu Kết luận và khuyến nghị Phụ lục 17 PHAN NOI DUNG CHUONG 1.
CO SO LY LUAN VE QUY TRINH XET DUYET DE TAI NGHIEN CUU KHOA HQC TRONG HOAT DONG QUAN LY KHOA HQC VA CONG NGHE 1. Hệ thống khái niệm có liên quan. Hoạt động khoa học và công nghệ Theo Luật Khoa học và công nghệ được ban hành năm 2000, “Hoat động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dich vụ khoa hoc và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiễn kỹ thuật, hop lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghé.”[19; điều 2] Hoạt động Khoa học và Công nghệ gồm: 1. Nghiên cứu và triển khai (R&D) 2.
Chuyến giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ 3. Phát triển công nghệ 4. Dịch vụ KH&CN Theo định nghĩa của UNESCO, hoạt động khoa hoc và công nghệ (scientific and technological activities) là: “các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các khoa học tự nhiên, engineering và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn ””. Hoạt động KH&CN theo khái niệm của UNESCO được mô tả theo hình sau: Bang 1.1: Hoạt động KH&CN theo khái niệm của UNESCO AR D TD FR Nghiên cứu cơ bản AR Nghiên cứu ứng dụng D Triển khai (Technological Experimental Development) ¬ Chuyền giao tri thức (bao gồm chuyền giao công nghệ) TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development) STS Dich vụ khoa hoc va công nghệ 18 ® Dựa trên những khía cạnh, góc độ nhìn nhận khác nhau mà Luật Khoa học và công nghệ và UNESCO đưa ra những định nghĩa khác nhau về hoạt động KH&CN.
Luật KH&CN đưa ra cách hiểu về hoạt động KH&CN dựa trên những hoạt động chung nhất, tổng quát nhất cho tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghệ bao gồm: hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN và những hoạt động nhằm phát triển KH&CN,. Còn UNESCO định nghĩa hoạt động KH&CN trên cơ sở liệt kê hoạt động của từng lĩnh vực khoa học như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học y học và nông nghiệp,. Theo cách định nghĩa của Luật KH&CN được ban hành năm 2000 cho thấy rất rõ hoạt động KH&CN bao gồm những hoạt động gì và một phần nào đó hình dung ra được toàn bộ hệ thống tổ chức KH&CN. Ở đây hoạt động KH&CN bao gồm: hoạt động nghiên cứu và phát triển; hoạt động chuyền giao tri thức (bao gồm chuyên giao công nghệ); phát triển công nghệ; dịch vụ KH&CN.
Các tổ chức KH&CN là: cơ quan tiến hành nghiên cứu và triển khai, tô chức chuyên làm dịch vụ KH&CN, tổ chức chuyển giao tri thức khoa học hay tổ chức làm dịch vụ chuyển giao công ghệ,. Tác giả luận văn đồng tình với cách định nghĩa của Luật KH&CN và trên cơ sở vận dụng khái niệm này dé tiến hành nghiên cứu dé tài và cho rằng hoạt động NCKH là một mảng quan trọng trong hoạt động KH&CN. Nghiên cứu khoa học. Khái niệm “khoa học”: “Khoa học là hệ thong tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội va tu duy” [19; điều 2] Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,.
về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất vả sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội va tư duy. Những tri thức này chính là tri thức khoa học.
19 Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Khái niệm “nghiên cứu khoa học”: “NCKH là hoạt động phát hiện, tim hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng ”.17] NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện ra bản chất của sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé làm biến đổi sự vật phục vụ mục tiêu hoạt động của con người.
Có thể nói, NCKH là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chỉ tiết. Chính vì vậy, trong NCKH, mỗi người nghiên cứu cần đưa ra một hoặc một số nhận định sơ bộ về kết quả cuối cùng của nghiên cứu, gọi đó là giả thuyết nghiên cứu, hay giả thuyết khoa học. Giả thuyết nghiên cứu, hay giả thuyết khoa học là phán đoán về bản chất đối tượng nghiên cứu. Theo phán đoán này, người nghiên cứu tiếp tục đi tìm kiếm các luận cứ để chứng minh.
Rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ xác nhận giả thuyết khoa học đặt ra ban đầu là đúng. Khi đó, người nghiên cứu khăng định được một luận điểm khoa học của mình. Nhung rat có thé kết quả nghiên cứu sẽ phủ định hoàn toàn phán đoán ban đầu, tức giả thuyết khoa học bị bác bỏ. Rốt cuộc, toàn bộ quá trình NCKH chang qua là quá trình tìm kiếm các luận cứ dé chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa học, tức luận điểm khoa học của tác giả.
Đặc điểm của nghiên cứu khoa học: NCKH hướng vào việc tìm kiếm những điều chưa biết. Đây là đặc điểm chung nhất của hoạt động NCKH. Chính đặc điểm này đã dẫn đến hàng loạt những đặc điểm khác của NCKH mà người nghiên cứu cũng như các nhà quản lý nghiên 20 cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thê về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Các đặc điểm này là những căn cứ quan trọng được sử dụng dé xây dựng các chỉ tiêu đánh giá xét duyệt cũng như nghiệm thu các DT/DA KH&CN.
Các đặc điểm của NCKH được thể hiện dưới đây: + Tính mới: Vì khoa học luôn hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình NCKH là quá trình hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo mới. Do đó tính mới là thuộc tính quan trọng nhất của NCKH. + Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có kha năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện hoàn toàn giống nhau cho kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy dé kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng.
Do vậy, khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, nhân tố và phương tiện thực hiện. Nguyên tắc này mang tính chung cho cả khoa học tự nhiên, KHKT, KHXH&NV. + Tính khách quan: Tính khách quan vừa là đặc điểm của NCKH, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuẩn mực gia tri.
+ Tinh thông tin: San phâm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dang như: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, một mẫu vật liệu mới, mẫu sản pham mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới,. Tuy nhiên trong tất cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ, tính năng của sản phẩm mới,. + Tính rủi ro: Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh hưởng tới các kết qua của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi.
Nó là hiện tượng bat ngờ, lệch so với dự tính hay nằm ngoài khả năng dự tính của con người, và nó có khả năng đem tới cho con người những tốn thất nhất định nếu không được kiểm soát kịp thời và đúng hướng. 21 Khám phá bản chất sự vật va sáng tạo ra sự vật mới là một quá trình có thể gặp thất bại, đó là tính rủi ro trong NCKH. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có nhiều dạng như do thiếu thông tin, trình độ, năng lực thiết bị, người nghiên cứu còn hạn chế,. Tuy nhiên trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả.
+ Tỉnh kế thừa: mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác xa nhau. + Tính cá nhân: dù là một công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thé hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân. + Tỉnh trễ trong áp dụng: Một kết quả nghiên cứu thường không được áp dụng ngay, mà phải qua một thời gian nhất định.
Thời gian giãn cách từ khi kết quả nghiên cứu thành công đến khi áp dụng được gọi là độ trễ.” Để đưa ra một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu phải trải qua một quá trình nghiên cứu có thé là rất dài, khoảng thời gian dé nghiên cứu có thé làm cho vấn dé nghiên cứu ấy không còn bức thiết nữa. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu thường không thê áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này như điều kiện kinh tế, tâm lý xã hội, văn hoá,. + Tính phi kinh tế: lao động nghiên cứu khoa học rất khó định mức một cách chính xác.