Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý bảo hiểm thất nghiệp cấp tỉnh, thành phố Chương 2. Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài 3 z Chương 3. Thực trạng quản lý bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội Chương 4.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 4 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý Bảo hiểm thất nghiệp và những vấn đề liên quan 1.Tình hình nghiên cứu Bảo hiểm thất nghiệp Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã phê chuẩn công ƣớc thất nghiệp C2 vào năm 1919. Tiếp đến các năm sau, tổ chức này cũng phê chuẩn các Công ƣớc : Công ƣớc phòng chống thất nghiệp C44, năm1913; Công ƣớc ASXH C102, năm 1952; Công ƣớc xúc tiến hỗ trợ và bảo vệ phòng chống thất nghiệp C168 năm 1991. Những Công ƣớc này là định hƣớng cho các nƣớc tham gia phê chuẩn Công ƣớc hoạch định chính sách tìm kiếm phƣơng pháp phòng chống thất nghiệp đẻ bảo vệ NLĐ và gia đình họ. Có 2 loại chính sách mà nhiều nƣớc đã hoạch định và tổ chức đó là : Chính sách BHTN và chính sách BHXH trong đó có chế độ TCTN.
Để hoạch định và tổ chức hoàn thiện đƣợc những chính sách này hoàn toàn phụ thuộc và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi Quốc gia. Tuy nhiên một số nhà khoa học đã công bố những nghiên cứu của mình về BHTN và TCTN. Điển hình nhƣ Cộng hòa liên bang Đức có SCHMID.H và Wayne Nafziger.Páp Lốp,… Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các tác giả tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân hậu quả của thất nghiệp trong một giai đoạn nhất định, ở những nƣớc hoặc khu vực nào đó trên thế giới. Có một số nghiên cứu đã tiếp cận đƣợc với BHTN và TCTN, song chỉ đƣa ra những định hƣớng về đối tƣợng tham gia, mức trợ cấp, thời gian trợ cấp thất nghiệp.
Do đây là vấn đề kinh tế - xã hội đặc thù của từng nƣớc, cho nên chƣa có một công trình nào nghiên cứu về tổ chức BHTN. Chính vì vậy những nghiên cứu của các tác giả trên chỉ để tham khảo trong quá trình tổ chức BHTN ở Việt Nam. Ngay sau khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, tình hình kinh tế cũng đã có nhiều chuyển biến, nhƣng tình trạng thất nghiệp cũng đã xuất hiện và gia tăng cả ở khu vực nông thôn và thành thị.Chính vì vậy nghiên cứu về BHTN và TCTN bắt đầu thu hút đuợc sự quan tâm của các nhà khoa học và nhà quản lý. 5 z Năm 1993, trong cuốn: “ Một số vấn dề về chính sách BHXH ở nuớc ta hiện nay” do NSB Lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần đã có một bài viết với tiêu đề:“ Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí “.
Nội dung bài viết đề cập đến khái niệm về TCTN và sự cần thiết phải có TCTN cho NLĐ trong cơ chế thị truờng. Năm 2000, TS Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh tế Bảo hiểm- Trƣờng ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện một đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B2000-38-62 : “ Tổ chức BHTN ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường”Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và khi đó luật BHXH chƣa ra đời cho nên nội dung của đề tài nay mới chỉ dừng lại ở một số nội dung chủ yếu mang tính định tính nhƣ: Sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTN; phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểm chung khi tổ chức triển khai BHTN ở Việt Nam. Tạp chí Trung tâm thông tin và dự báo thông tin quốc gia có 2 bài viết về lĩnh vực này với tiêu đề: “Bảo hiểm thất nghiệp sau gần 2 năm thực hiện: Thực trạng và giải pháp” - Số 59/2010 và “Thực trạng Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay và giải pháp điều hành” - Số 06/2015.Hai bài viết đã đƣa ra những số liệu cụ thể cho thấy tình trạng thất nghiệp đáng báo động ở Việt Nam giai đoạn 2010- 2015, đồng thời đƣa ra một số giải pháp điều hành đối với 2 cơ quan quản lý là Bộ LĐTB&XH và BHXH Việt Nam nhƣ : Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lƣợng cán bộ BHTN. Bộ LĐTB&XH cũng đã có Hội thảo:“Nhìn lại kết quả triển khai BHTN2013-2014”.Hội Thảo đã chỉ ra thực trạng thất nghiệp và những bƣớc tiến rõ rệt của BHTN đã đạt đƣợc trong vòng 1 năm đó, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại nhƣ: Chính sách ban hành còn chậm so với tình hình thực tế dẫn đến việc áp dụng bị lạc hậu, tình hình nợ BHTN cũng nhƣ vi phạm quy định về BHTN chƣa giảm rõ rệt, còn tồn tại một số bộ phận ngƣời lao động chƣa nhận thức đƣợc lợi ích của BHTN, quy trình quản lý còn rƣờm rà dẫn đến khó khăn cho ngƣời thực hiện BHTN.
Luận văn của tác giả Phạm Đình Thành (2008), « Bàn về mô hình tổ chức thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam », Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân ; Luận văn 6 z của tác giả Phạm Thị Kiều Thanh (2013), Bàn về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Khoa Bảo hiểm trƣờng ĐH Kinh tế quốc dân ; Là 2 luận văn từ khá sớm đề cập đên BHTN Việt Nam với cái nhìn khoa học, hai luận văn đƣa ra những nghiên cứu tƣơng đối sâu sắc về ƣu và khuyết điểm của mô hình BHTN Việt Nam. Tuy nhiên, những biện pháp nhằm khắc phục khuyết điểm thì chƣa thật sự triệt để.Tình hình nghiên cứu về quản lý Bảo hiểm thất nghiệp Trong cuốn sách: “ Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết” do NXB Thống kê phát hành năm 2001, PGS-TS Nguyễn Văn Kỵ có bài viết: “ Luật BHXH và vấn đề BHTN”. Nội dung bài viết tập trung vào khía cạnh: Khi xây dựng Luật BHXH ở Việt Nam có nên hay không nên đề cập đến vấn đề BHTN? Năm 2003, tại Hội thảo khoa học : “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội” do Bộ Tài Chính tổ chức, TS Đặng Anh Duệ đã có bài báo tham luận:“ Để xây dựng và thực hiện chế độ BHTN ở Việt Nam”. Bài báo này chủ yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải có chế độ BHTN trong hệ thống các chế độ BHXH ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ này.
Tạp chí Cộng sản số 124/2014có bài: “Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp thời gian gần đây và giải pháp”. Công trình đƣa ra những thống kê về tình hình thực hiện BHTN tại Việt Nam đồng thời vạch ra những tham luận có giá trị để khắc phục những thiếu sót. Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại BHXH Việt Nam đã thực hiện một chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam”. Trong chuyên đề này, một số nội dung của BHTN đã bƣớc đầu đƣợc đề cập, một số quan điểm khi lựa chọn hình thức TCTN ở nƣớc ta đã đƣợc đƣa ra.
Song, việc phân biệt giữa BHTN và TCTN chƣa đƣợc nghiên cứu, vấn đề tổ chức BHTN ở nƣớc ta chƣa đƣợc làm rõ. Đặng Văn Thành – ĐH Lao động – Xã hội đã thực hiện luận văn: “ Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam hiện nay”. Trên cơ sở phân tích chính sách BHTN trong gần 4 năm, luận căn đã đƣa ra những quan điểm hoàn thiện chính sách, đặc biệt là sự so sánh giữa hai mô hình QL BHTN là: Mô hình QL liên kết giữa 2 ngành LĐTB&XH - BHXH Việt Nam hiện nay đang thực hiện và mô 7 z hình BHXH Việt Nam thực hiện độc lập. Chỉ ra mô hình tối ƣu nhất, phù hợp với Việt Nam trong thời gian tới.3 Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về QL BHTN và những vấn đề liên quan.
Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc, từ khung khổ lý thuyết tới thực tiễn quản lý BHTN trên địa bàn TP. Điều đó cho thấy còn có khoảng trống trong nghiên cứu về QL BHTN nói chung, QL BHTN trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng. Các câu hỏi cần đƣợc tiếp tục làm rõ, đó là: Thứ nhất, Nội dung, nhân tố ảnh hƣởng và tiêu chí đánh giá QL BHTN là những gì? Thứ hai, Thành phố Hà Nội đã QL BHTN nhƣ thế nào? Thứ ba, Thành phố Hà Nội và các ban, ngành liên quan cần có những giải pháp gì để hoàn thiện BHTN tại địa bàn? 1. Cơ sở lý luận về Quản lý bảo hiểm thất nghiệp 1.1 Khái niệm và mục tiêu 1.1 Khái niệm *Thất nghiệp: Là tình trạng ngƣời lao động muốn có việc làm mà không tìm đƣợc việc làm, hoặc tình trạng ngƣời lao động đang làm việc mà bị mất việc làm.
Thất nghiệp là một trong những “căn bệnh” phổ biến của nền kinh tế. Đó là, tình trạng của nền kinh tế, trong đó, một bộ phận của lực lƣợng lao động không có việc làm, họ đang tích cực đi tìm việc. Thất nghiệp làm cho NLĐ không có thu nhập, trong khi luôn phải tốn kém những chi phí đi tìm việc làm. Hơn nữa, thất nghiệp làm cho đời sống tinh thần của NLĐ và gia đình họ luôn nặng nề.
Các nhà xã hội học cho rằng: thất nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây nên các tệ nạn xã hội. Thất nghiệp có ảnh hƣởng lớn không chỉ đến NLĐ, mà còn đến toàn bộ nền kinh tế, đó là: sự lãng phí nguồn nhân lực (đặc biệt là sự lãng phí nguồn nhân lực chất lƣợng cao), kéo theo sự lãng phí các nguồn lực kinh tế khác; sự giảm sút tổng sản lƣợng của nền kinh tế… Ngoài ra, khi có tình trạng thất nghiệp, xã hội phải chi ra những khoản TCTN, những khoản chống và khắc phục các tệ nạn xã hội do thất nghiệp. Có nhiều tiêu chí để phân loại thất nghiệp.