Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VĂN 1. Hoạt động khoa học và công nghệ 1. Khái niệm khoa học: Hiện nay khoa học được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, chăng hạn như: Khoa học là “ hệ thống tri thức về mọi loại quy luật vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”. Hệ thông tri thức được nói ở đây là hệ thông tri thức khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm.
” - Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày. Nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội. tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, chứa đựng những mặt đúng đắn, nhưng riêng biệt chưa thể đi sâu vào bản chất các sự vật, và do vậy tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con người phát triển đến một khuôn khổ nhất định. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm luôn là một cơ sở quan trọng cho sự hình thành các tri thức khoa học.
- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thong nho hoạt động nghiên cứu khoa hoc, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học. Tri thức khoa học không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm, mà là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chat. Theo quan điểm triết học khoa học được hiểu là “hình thái ý thức xã hội, ton tại và mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh”. Mỗi một phát hiện mới trong nghiên cứu khoa học đều hoàn toàn có khả năng làm xuất các di biệt với các hình thái ý thức xã hội khác và ' Vũ Cao Đảm, Giáo trình Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, 2008.
14 ton tại khách quan cho nên phải chấp nhận sự va chạm với các định kiến xã hội ví dụ như sự phát hiện hoặc sáng tạo mới đó khác biệt với truyền thống tư duy, tập tục dân tộc,hoặc ý thức hệ chính tri. Do vậy để tránh xảy ra xung đột giữa khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác thì khi nghiên cứu khoa học phải luôn xem xét mối quan hệtrên. Theo như khái niệm xã hội học thì “ Khoa học có thể sẽ là mội thiết chế xã hội cóý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại, thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thể giới này hơn bắt kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào”; thiết chế xã hội nay là 1 hệ thống những quy tắc, giá trị và cau trúc nhắm đến 1 mục đích xác định, là hệ thống các quan hệ ôn định tạo nên 1 loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận nhăm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của xã hội. Với khái niệm trên khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội như: định ra khuôn mẫu hành vi lay tính khoa hoc làm thước đo, các luận cứ khoa học trở nên 1 đòi hỏi trong mọi quyết định sản xuất , kinh doanh, tổ chức xã hội.
Nhìn nhận khoa học là một thiết chế xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với người nghiên cứu trong quá trình lựa chọn phương hướng nghiên cứu, đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng liên quan đến việc hoạch định chính sách, hỗ trợ những nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cho sự phát triển xã hội.” Khoa học ngày nay đã trở thành một hoạt động ngề nghiệp của một cộng đồng xã hội, đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm kiếm những điều chưa biết, là một loại lao động gian khô, nhiều rủi ro Với tư cách là một hoạt động xã hội, khoa học định hướng tới những mục tiêu sau: - Là phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan. ? Vũ Cao Đàm, Giáo trình Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, 2008 15 - Dựa vào quy luật dã nhận biết của sự vật mà dự báo quá trình phát triển của sự vật, lựa chọn hướng đi cho mình dé tránh hoặc giảm thiểu các rủi ro. - Sáng tạo các sự vật mới phục vụ những mục tiêu ton tại và phát triển bản thân con người và xã hội của con người. Do vậy đây là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt khó tìm thấy trong những lĩnh vực hoạt động xã hội khác.
Khát niệm công nghệ: Thuật ngữ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “Techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay một kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Gần đây, thuật ngữ này đã trở thành một cụm từ được nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm. Trong lĩnh vực quản lý, công nghệ được xem “là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất và phân phối hàng hoá và dịch vụ”. Trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, “công nghệ là hệ thống những kiến thức (bao gồm thông tin, bí quyết - có thé bao gồm cả máy móc, thiết bị) được áp dung dé sản xuất một sản phẩm hoặc một dịch vụ”.
Và hiện nay, khái niệm nay đã được xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực (công nghệ thông tin, công nghệ giáo dục, công nghệ dao tạo, công nghệ du lịch, công nghệ quản lý, công nghệ ngân hàng, công nghệ văn phòng, .) với một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ “Công nghệ là tất cả những cái gì dùng dé biến đổi đầu vào thành đầu ra”. Hiện nay, công nghệ có rất nhiều khái niệm khác nhau tùy ở mỗi tổ chức mà công nghệ được định nghĩa ở một dạng khác nhau chăng hạn như: Theo tác giả Sharif (1986) thì cho rằng “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đồi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách toi uu vào tập hợp các yếu tô bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”. Công nghệ là tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: 16 - Thê hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh. - Thé hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm).
- Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, qui trình, phương pháp, dữ kiện thích hop. được mô tả trong các an phẩm, tài liệu. - Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cau quản lý, cơ sở luật phap. Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (United Nation’s Industrial Development Organization - ƯNIDO): “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thông và có phương pháp”.2] Theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu A - Thái Bình Duong (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific — ESCAP): “công nghệ là kiến thức có hệ thong về qui trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gôm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thong dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dich vụ” [3,tr.2] Quan điểm này đã được thừa nhận là bước ngoặt quan trọng trong khái niệm về công nghệ. Ramanathan: công nghệ có bốn thành phần là thiết bị, con người, thông tin và tổ chức. + Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản pham mong muon. Thành phan thiết bi gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống xử ly thông tin.
° Hệ thong biến đôi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết kế của máy móc thiết bị. - Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xây dựng một cách cục bộ hoặc hoản toàn trong thành phần thiết bị. Trong một vai 17 trường hop, nó có thể không có trong thành phan này. Hệ thong gồm ba giai đoạn: nhận biết - phân tích - xử lý.
+ Thành phần con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ. Tầm quan trọng của kỹ năng dựa trên ba điều cơ bản: * Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất va là nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hang hoá. * Con người có trí thông minh (không như may móc). Do đó, họ có khả năng suy nghĩ, phân tích, sáng tạo và phát triển thông tin cần thiết dé tạo ra sự sung túc, giau có.
+ Năng suất lao động của con người có thé tăng hoặc giảm do môi trường làm việc. + Thành phần tô chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn và bé tri dé vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware nó có thé được thê hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh gia công việc và giảm nhẹ công việc. + Thành phan thông tin (Inforware): biểu thị việc tích lũy kiến thức bởi con người. Dù có tô chức tốt, “con người” cũng không thé sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu”.
Inforware được chia làm ba loại: » Thông tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì và cải tiễn. + Thông tin chuyên về con người: thông tin về những hiểu biết và đánh giá về quy trình sản xuất và thiết bị được sử dụng. - Thông tin chuyên về tô chức: thông tin cần thiết dé bao đảm việc sử dụng hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của Technoware và Humanware. 18 Trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm ”.6] Tuy theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau: - Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ, công nghệ thông tin, công nghệ đảo tạo.