CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING HỖN HỢP TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ 1.1 Tổng quan về Marketing và Marketing hỗn hợp 1.1 Marketing và hệ thống hoạt động Marketing của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, vai trò và chức năng của marketing trong doanh nghiệp a. Khái niệm Marketing Marketing là một khái niệm rất rộng lớn, có rất nhiều phát biểu khác nhau về Marketing, có thể kể đến một số khái niệm sau: Theo Kotler & Keller (2015): “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và các nhóm đạt được nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và giá trị giữa các bên”. Theo AMA - Hiệp hội Marketing Mỹ (2017): “Marketing là hoạt động, tập hợp các thể chế và quy trình để tạo ra, truyền thông, phân phối và trao đổi các giá trị cho người tiêu dùng, tổ chức, đối tác và xã hội nói chung”. Theo Trần Minh Đạo (2013): “Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi”. Tóm lại, xét dưới góc độ doanh nghiệp thì Marketing là tổng thể các loại hoạt động nhằm xác định các nhu cầu chưa được đáp ứng của khách hàng; thiết kế các sản phẩm (hoặc dịch vụ) để thỏa mãn nhu cầu này, phân phối chúng đến với khách hàng và từ đó nhận lại giá trị từ việc chuyển giao đó. Vai trò của Marketing Marketing đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, là cầu nối giữa các hoạt động trong doanh nghiệp và thị trường, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp hướng đến thị trường, lấy thị trường làm mục tiêu kinh doanh. Hay nói cách khác, Marketing có nhiệm vụ tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Marketing còn đóng vai trò thiết yếu trong doanh nghiệp. Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp với thị trường. Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, Luan van 6 biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. Marketing liên kết giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và người tiêu dùng: Do có sự cách biệt về không gian và thời gian giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và người tiêu dùng nên các nhà kinh doanh không thể nắm bắt được những thông tin về sự thay đổi của nhu cầu tiêu dùng nếu như không có sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống thông tin Marketing.
Nhờ các hoạt động Marketing mà những quyết định kinh doanh có cơ sở khoa học hơn, đồng thời giúp các doanh nghiệp có điều kiện thu thập và xử lý thông tin một cách hiệu quả nhất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Marketing giúp khắc phục những lời kêu ca, phàn nàn từ phía người tiêu dùng thông qua việc nghiên cứu hành vi sau mua của khách hàng. Marketing sẽ giúp cho các doanh nghiệp thương mại tìm ra những phương pháp toàn diện để giải quyết, khắc phục những lời phàn nàn của khách hàng đồng thời hoàn thiện hơn về mặt hàng kinh doanh của mình. Bằng việc áp dụng hợp lý ngân sách, nguồn lực cho Marketing, doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao nhận biết dịch vụ, chất lượng dịch vụ.
Từ đó Marketing có thể đem lại những lợi ích, cơ hội về mặt tài chính cho doanh nghiệp. Chức năng của marketing Hai chức năng cơ bản của Marketing đó là : (1) Nghiên cứu phát hiện, phân tích, đánh giá, lựa chọn nhu cầu và mong muốn của khách hàng và các đối tác liên quan; (2) Thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng sản phẩm/dịch vụ và các công cụ marketing trong hỗn hợp Marketing của doanh nghiệp. Để phục vụ cả người mua lẫn người bán, Marketing tập trung vào tìm kiếm nhu cầu và mong muốn của các khách hàng tiềm năng và tìm cách thoả mãn những nhu cầu này. Các khách hàng triển vọng gồm cả khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức.
Chìa khoá để đạt các mục tiêu của cả hai bên là tư tưởng trao đổi những thứ có giá trị giữa hai bên (doanh nghiệp và khách hàng) sao cho mỗi bên đều nhận được lợi ích cao hơn sau khi trao đổi.2 Hệ thống hoạt động Marketing của doanh nghiệp Hoạt động Marketing của doanh nghiệp được vận hành trong hệ thống các yếu tố tác Luan van 7 động, các yếu tố này sẽ tạo ảnh hưởng đến các quyết định Marketing trong doanh nghiệp. Hệ thống Marketing bao gồm doanh nghiệp và các bên hữu quan (khách hàng, nhân viên, nhà cung ứng, trung gian Marketing…) mà doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ có lợi với họ. Hệ thống hoạt động Marketing của doanh nghiệp là tập hợp những chủ thể tích cực và những lực lượng hoạt động ở bên ngoài doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến các quyết định Marketing, thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các khách hàng mục tiêu.1 : Mô hình hệ thống hoạt động marketing (Nguồn: Nguyễn Thị Hoàng Yến và Trần Thị Thập, 2013) Trung tâm của hệ thống hoạt động Marketing là thị trường mục tiêu (khách hàng mục tiêu), mọi nỗ lực Marketing cần hướng vào để thỏa mãn nhu cầu của họ. Thông thường, những nỗ lực marketing được thực hiện qua bốn yếu tố marketing mix (4P) – Marketing hỗn hợp đó là: Sản phẩm, Giá, Phân phối và Xúc tiến hỗn hợp.
Các biến số marketing hỗn hợp là sản phẩm tất yếu của hệ thống thu thập thông tin Marketing, lập kế hoạch Marketing, tổ chức thực hiện và kiểm tra Marketing. Các quá trình này gắn bó chặt chẽ với nhau: thông tin Marketing cần thiết cho việc lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, việc triển khai chiến lược phải thông qua kế hoạch và chương trình Marketing. Ngược lại, kế hoạch và chương trình Marketing muốn thành hiện thực phải thông qua khâu tổ chức thực hiện, và kiểm tra Marketing chính là đảm bảo cho việc thực hiện khớp với kế hoạch đã đặt ra. Toàn bộ quá trình này đều chịu sự tác động của môi trường Marketing.
Luan van 8 Môi trường Marketing của một doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố, các lực lượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động, các quyết định của bộ phận Marketing trong doanh nghiệp, đến khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng mục tiêu của nó. Môi trường marketing của doanh nghiệp bao gồm: - Môi trường vĩ mô: Môi trường nhân khẩu học: Nghiên cứu các vấn đề như quy mô, mật độ, phân bố dân cư, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, tôn giáo, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết. Các nhà quản lý Marketing cần quan tâm đến các yếu tố của môi trường nhân khẩu, vì con người hợp thành thị trường cho các doanh nghiệp. Môi trường kinh tế: Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn.
Các yếu tố thuộc môi trường này như: GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, cơ cấu kinh tế, tỷ giá hối đoái, các chính sách tài chính, tiền tệ, hoạt động ngoại thương (xu hướng đóng/mở cửa nền kinh tế)… cùng với xu hướng vận động của chúng đều tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng hay thu hẹp cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tiêu dùng và đầu tư. Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình bán hàng của các doanh nghiệp. Môi trường chính trị - pháp luật : Môi trường chính trị bao gồm các đường lối, chính sách của chính phủ, cấu trúc chính trị, hệ thống quản lý hành chính và môi trường luật pháp bao gồm các bộ luật và sự thể hiện của các quy định, có thể cản trở hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động Marketing. Các yếu tố thuộc môi trường này chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Phân tích môi trường chính trị, pháp luật giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với những thay đổi có lợi hoặc bất lợi của điều kiện chính trị cũng như mức độ hoàn thiện và thực thi pháp luật trong nền kinh tế. Môi trường văn hóa xã hội: Hoạt động Marketing dưới hình thức này hay hình thức khác đều trong phạm vi xã hội và từng xã hội lại có một nền văn hóa hướng dẫn cuộc sống hàng ngày của nó. Văn hóa là tất cả mọi thứ gắn liền với xu thế hành vi cơ bản của con người từ lúc được sinh ra, lớn lên. Những yếu tố của môi trường văn hóa phân tích ở đây chỉ tập Luan van 9 trung vào hệ thống giá trị, quan niệm về niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi, đây là các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hình thành và đặc điểm của thị trường tiêu thụ.
Khi phân tích môi trường văn hóa cho phép doanh nghiệp có thể hiểu biết ở những mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ của mình. Môi trường khoa học công nghệ: Sự tiến bộ và phát triển của khoa học công nghệ và kỹ thuật ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao với nhiều tiện ích, càng làm cho cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn, làm rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm. Do đó, các doanh nghiệp phải thường xuyên tự đổi mới mình, đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu - phát triển và áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào kinh doanh. Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm môi trường sinh thái, thời tiết, khí hậu, tài nguyên, năng lượng.
Các nhà quản trị marketing cần xem xét các cơ hội và đe doạ có liên quan đến các xu hướng chính trong sự biến đổi của môi trường tự nhiên: sự khan hiếm các nguồn nguyên liệu, mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng, chi phí năng lượng ngày càng gia tăng, sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên. - Môi trường vi mô Các yếu tố và lực lượng bên trong doanh nghiệp: Hoạt động Marketing không phải là một hoạt động riêng rẽ trong doanh nghiệp. Ngược lại nó bị chi phối bởi các lực lượng, các yếu tố khác trong doanh nghiệp. Chức năng Marketing phải kết nối chặt chẽ với các chức năng khác trong doanh nghiệp như Tài chính, Kế toán, Nhân lực, R&D, Sản xuất, Vật tư, Kế hoạch.
Do vậy, người phụ trách Marketing phải biết kết nối và nhận được sự đồng tình, hỗ trợ của các bộ phận liên quan.