CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DVB-T2 Truyền hình kỹ thuật số DVB-T ra đời đã khắc phục được nhược điểm của hệ thống máy phát hình analog trước đó như khả năng phát sóng nhiều chương trình trên 1 kênh RF, khả năng thu tín hiệu đa đường, khả năng thu di động, chống được hiện tượng bóng hình, nhòe hình ở máy thu do can nhiễu đường truyền.Chuẩn truyền hình số DVB-T2 là thế hệ thứ 2 của DVB-T.1 Giới thiệu chung. Việc phát triển các tiêu chuẩn DVB đã khởi đầu vào năm 1993 và tiêu chuẩn DVB-T đã được tiêu chuẩn hoá vào năm 1997 do Viện tiêu chuẩn truyền thông châu Âu (ESTI: European Telecommunication Standards Institute). Hiện nay tiêu chuẩn này đã được các nước châu âu và nhiều nước khác trên thế giới thừa nhận. Năm 2001 Đài truyền hình Việt Nam đã quyết định chọn nó làm tiêu chuẩn để phát sóng cho truyền hình mặt đất trong những năm tới.
DVB là sơ đồ truyền dựa trên tiêu chuẩn MPEG-2, là một phương pháp phân phối từ một điểm tới nhiều điểm video và audio số chất lượng cao có nén. Nó là sự thay thế có tăng cường tiêu chuẩn truyền hình quảng bá tương tự vì DVB cung cấp phương thức truyền dẫn linh hoạt để phối hợp video, audio và các dịch vụ dữ liệu. Trong truyền hình số mặt đất không thể sử dụng phương pháp điều chế đơn sóng mang được vì hiệu ứng đa đường sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chỉ tiêu kĩ thuật của truyền sóng mang đơn tốc độ cao vì lý do này OFDM đã được sử dụng cho tiêu chuẩn truyền hình mặt đất DVB-T. DVB-T cho phép hai mode truyền phụ thuộc vào số sóng mang được sử dụng như sau: Tham số Mode 2K Mode 8K Số lượng sóng mang con 1705 6817 Độ rộng symbol có ích(TU) 224 s 896 s Khoảng cách sóng mang (1/TU) 4464hz 1116Hz Băng thông 7.61Mhz Khoảng bảo vệ T/4, T/8, T/12 T/4, T/8 Phương thức điều chế QPSK,16-64QAM QPSK,16-64QAM Kiểu 2K phù hợp cho hoạt động bộ truyền đơn lẻ và cho các mạng SFN loại nhỏ có khoảng cách bộ truyền giới hạn; nó sử dụng 1705 sóng mang con.
Kiểu 8K có 11 z thể được sử dụng cho hoạt động bộ truyền đơn lẻ cũng như cho các mạng SFN loại nhỏ và lớn; nó sử dụng 6817 sóng mang con. Để giảm nhỏ ảnh hưởng không bằng phẳng của kênh thì dùng nhiều sóng mang càng tốt. Tuy nhiên khi số sóng mang nhiều, mạch sẽ phức tạp hơn, trong giai đoạn đầu khi công nghệ chế tạo chip chưa hoàn thiện, các chip điều chế còn đắt người ta thường dùng mode 2k vì công nghệ chế tạo chip đơn giản và rẽ hơn. Về cấu trúc máy phát số DVB-T và máy phát hình tương tự là giống nhau nhưng điểm khác biệt là phần điều chế.
Sơ đồ khối máy phát hình DVB-T chỉ ra như sau: Hình 1.1: Sơ đồ khối máy phát hình số DVB-T Trong các máy phát hình số thì tín hiệu số đầu vào rất khác so với tín hiệu đầu vào của máy phát hình tương tự. Một số luồng tín hiệu video, audio analog đầu vào được xử lý số hóa và nén tín hiệu, ghép nhiều chương trình thì các kỹ thuật điều chế đơn giản như điều biên, điều tần ở trong các máy phát hình tương tự không thể xử được. Các tín hiệu đầu vào tương tự phải được số hóa. Mặt khác, trong mạng đơn tần tất cả các đài phát của mạng phát DVB-T thông qua hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) được khoá ở một tần số chính xác làm cho tất cả các máy phát sử dụng ở cùng một tần số và được phát trong cùng một thời gian.
Nguyên lý của hệ thống ghép các kênh thu từ vệ tinh và các kênh địa phương như trình bày ở hình 1.2: Sơ đồ khối bộ biến đổi Kỹ thuật điều chế số của DVB-T dùng kỹ thuật điều chế ghép đa tần trực giao OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplerxing) là phương pháp điều chế đa sóng mang trong đó các sóng mang con trực giao với nhau, OFDM dựa trên nguyên tắc phân chia luồng dữ liệu thành các luồng dữ liệu con gửi lên các sóng mang. Các sóng mang được điều chế với tốc độ bít thấp và với số lượng sóng mang lớn sẽ mang luồng dữ liệu có tốc độ bít cao. Khi đó phía bên thu sẽ thu được nhiều tín hiệu (tín hiệu chính và tín hiệu phản xạ) và không đồng nhất. Để có thể lặp lại những dữ liệu đã mất ở phía thu cần mã hóa dữ liệu trước khi phát.
Hệ phát số DVB-T sử dụng kỹ thuật COFDM (code OFDM- ghép tần số trực giao có mã sửa sai) như một phương thức điều chế dữ liệu. Việc sử dụng một số lượng lớn các sóng mang tưởng chừng như không có triển vọng lắm trong thực tế và không chắc chắn, vì có rất nhiều bộ điều chế và giải điều chế và các bộ lọc đi kèm theo, đồng thời phải cần một dải thông lớn hơn để chứa các sóng mang này. Nhưng các vấn đề trên đã được giải quyết khi các sóng mang đảm bảo điều kiện được đặt đều đặn cách nhau một khoảng fU=1/TU,với TU là khoảng biểu tượng hữu dụng, đây cũng chính là điều kiện trực giao của các sóng mang trong hệ thống ghép kênh phân chia tần số trực giao [2].3 biểu diễn hình ảnh của phổ tín hiệu của 12 sóng mang con trực giao nhau trong dải thông kênh truyền dẫn và phổ tín hiệu RF của máy phát số DVB-T có dải thông 8MHz. Các thành phần phổ thực tế của máy phát số DVB-T (gồm hàng nghìn các sóng mang con) chiếm hết dải thông 8MHz.Phổ của tín hiệu OFDM với số sóng mang N=12.
Mặt toán học, việc trực giao sẽ như sau: Sóng mang thứ k được biểu diễn: K (t ) e jk t U (1.1) với U = 2/ TU, và điều kiện trực giao mà sóng mang phải thoả mãn là: (1.2) Về ý nghĩa vật lý: khi giải điều chế tín hiệu cao tần này, bộ giải điều chế không nhìn thấy các tín hiệu cao tần kia, kết quả là không bị các tín hiệu cao tần khác gây nhiễu. Về phương diện phổ: Điểm phổ có năng lượng cao nhất rơi vào điểm bằng không của sóng mang kia. Hơn nữa chúng ta sẽ không bị lãng phí về mặt phổ. Các sóng mang được đặt rất gần nhau vì thế tổng cộng dải phổ cũng chỉ như ở điều chế sóng mang đơn - nếu chúng được điều chế với tất cả dữ liệu và sử dụng bộ lọc cắt đỉnh lý tưởng.
Bản chất của quá trình tạo tín hiệu OFDM là phân tích chuỗi bit đầu vào thành các sóng mang đã được điều chế theo một kiểu nào đó trong miền thời gian liên tục. Tuỳ thuộc vào kiểu điều chế mỗi tổ hợp bit trong chuỗi bit đầu vào được gán cho một tần số sóng mang, vì vậy mỗi sóng mang chỉ tải số lượng bit cố định. Nhờ bộ ánh xạ (Mapper) và điều chế M-QAM, sóng mang sau khi điều chế QAM là một số phức và được xếp vào biểu đồ chòm sao theo quy luật mã Gray trên 2 trục Re (thực) và Im (ảo). Vị trí của mỗi điểm tín hiệu (số phức) trên biểu đồ chòm sao phản ánh thông tin về biên độ và pha của các sóng mang.
Quá trình biến đổi IFFT sẽ biến đổi các số phức biểu diễn các sóng mang trong miền tần số thành các số phức biểu diễn các sóng mang trong miền thời gian rời rạc. Trong thực tế các thành phần Re và Im được biểu diễn bằng chuỗi nhị phân được bộ điều chế I/Q sử dụng để điều chế sóng mang cũng được biểu diễn bằng một chuỗi nhị phân. Chuỗi nhị phân sau điều chế IQ được biến đổi D/A để nhận được tín hiệu trong băng tần cơ bản. 14 z Quá trình xử lý ở phía thu của DVB-T sẽ thực hiện biển đổi FFT để tạo các điểm điều chế phức của từng sóng mang phụ trong symbol OFDM, sau khi giải ánh xạ (Demapping) xác định biểu đồ bit tương ứng các tổ hợp bit được cộng lại để khôi phục dòng dữ liệu đã truyền [5].
Ưu điểm của hệ thống DVB-T sử dụng OFDM [4]. (a) OFDM tăng hiệu suất sử dụng phổ bằng cách cho phép chồng lấp những sóng mang con. (b) Bằng cách chia kênh thông tin ra thành nhiều kênh con fading phẳng băng hẹp, các hệ thống OFDM chịu đựng fading lựa chọn tần số tốt hơn những hệ thống sóng mang đơn. (c) OFDM loại trừ xuyên nhiễu symbol (ISI) và xuyên nhiễu giữa các sóng mang (ICI) bằng cách chèn thêm vào một khoảng thời bảo vệ trước mỗi symbol.
(e) Kỹ thuật cân bằng kênh trở nên đơn giản hơn kỹ thuật cân bằng kênh thích ứng được sử dụng trong những hệ thống đơn sóng mang. (f) Sử dụng kỹ thuật DFT để bổ sung vào các chức năng điều chế và giải điều chế làm giảm độ phức tạp của OFDM. (g) Các phương thức điều chế vi sai (differental modulation) giúp tránh yêu cầu bổ sung vào bộ giám sát kênh. (h) OFDM ít bị ảnh hưởng với khoảng thời gian lấy mẫu (sample timing offsets) hơn so với các hệ thống sóng mang đơn.
(i) OFDM chịu đựng tốt với nhiễu xung và nhiễu xuyên kênh kết hợp. Các hạn chế khi sử dụng hệ thống OFDM. (a) Biểu tượng OFDM bị nhiễu biên độ với một khoảng động rất lớn. Vì tất cả các hệ thống thông tin thực tế đều bị giới hạn công suất, tỷ số PAPR (Peak-to-Average Power Ratio) cao là một bất lợi nghiêm trọng của OFDM nếu dùng bộ khuếch đại công suất hoạt động ở miền bão hòa để khuếch đại tín hiệu OFDM.
Nếu tín hiệu OFDM có tỷ số PAPR lớn thì sẽ gây nên nhiễu xuyên điều chế. Điều này cũng sẽ làm tăng độ phức tạp của các bộ biến đổi từ analog sang digital và từ digital sang analog. Việc rút ngắn (clipping) tín hiệu cũng sẽ làm xuất hiện cả méo nhiễu (distortion) trong băng lẫn bức xạ ngoài băng. (b) OFDM nhạy với độ trôi (offset) tần số và sự trượt của sóng mang hơn các hệ thống đơn sóng mang.
Vấn đề đồng bộ tần số trong các hệ thống OFDM phức tạp hơn hệ thống sóng mang đơn. Tần số offset của sóng mang gây nhiễu cho các sóng 15 z mang con trực giao và gây nên nhiễu liên kênh làm giảm hoạt động của các bộ giải điều chế một cách trầm trọng. Vì thế, đồng bộ tần số là một trong những nhiệm vụ thiết yếu cần phải đạt được trong bộ thu OFDM [6].1 Các tiêu chuẩn của DVB-T2 bao gồm : DVB-T2 phải có khả năng truyền dẫn trên các thiết bị sẵn có và phải tái sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có.