Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LIÊN KET GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Đào tạo và phát triển Nguồn nhân lực (NNL) Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là những người lao động trong doanh nghiệp được tổ chức theo những cơ cấu nhất định. Với những chức năng nhiệm vụ được phân công, quy định trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Theo Giáo trình quản tri nguồn nhân lực của Học viện Tài chính, “Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành” [6, tr 183]. Bên cạnh đó, một số khái niệm khác cho rằng đào tạo và phát triển là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học hỏi kỹ năng mới và thay đổi quan điểm, hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công tác của các cá nhân”. Đào tạo định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc thực tế của cá nhân, nhằm vào những kỹ năng thiếu hụt của người lao động, giúp người lao động có ngay những kỹ năng cần thiết dé thực hiện tốt công việc. Dao tạo và phat triển nguồn nhân lực là một hoạt động có tô chức và được điều khiến bởi doanh nghiệp.
Trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đối về nhận thức, trình độ, kỹ năng, ý thức của người lao động đối với công việc của họ. Công tác dao tạo và phát triển có liên quan đến tổ chức và cá nhân. Nội dung của đảo tạo là định hướng cho con người về hành động theo một chuyên môn, một nghiệp vụ nào đó bao gồm: - Đảo tạo kiến thức chuyên môn nghiệp vụ: Là trang bị kiến thức về lý thuyết, kỹ năng về chuyên môn, nghề nghiệp. 11 - Đào tạo kiến thức phổ thông: Là đào tạo những kiến thức liên quan đến nghề phổ thông.
- Đào tạo nâng cao: Là nhằm bồi đưỡng nâng cao kiến thức về lý thuyết, kỹ năng thực hiện, về nghề nghiệp chuyên môn của người lao động dé họ có thê tiếp tục hoàn thành và hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, đáp ứng kịp thời tiễn bộ khoa học kỹ thuật. - Đào tạo mới: Đảo tạo những người chưa tham gia hoặc những người đã tham gia vào quá trình sản xuất nhưng chưa có nghé; hoặc đào tạo lại cho những người có nghề rồi nhưng nghề đó không phù hợp với quản lý sản xuất, yêu cầu kỹ thuật. Nhân lực Khoa học và công nghệ Nhân lực khoa học và công nghệ có thê được hiểu theo những cách khác nhau. Theo cuốn Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003 và cuốn “Manual on the Measurement of Human Resources devoted to S & T” (Cam nang vé do lường nguồn nhân lực KH&CN) của Tổ chức Hop tác va phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development), nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đăng và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao dang, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương.
Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thê hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN. Khái niệm này dường như quá rộng dé thé hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. 12 Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và triển khai hay còn gọi là R&D (Research and Development), dé thé hiện lực lượng lao động KH&CN của mình.
Theo hướng dẫn thống kê R&D của OECD trong Cam nang FRASCATI, khái niệm nhân lực R&D bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động R&D hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động R&D. Nhân lực R&D được chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu). Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đăng/đại học, thạc sĩ và tiễn sĩ hoặc không có văn băng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương.
Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào nghiên cứu triển khai bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới Sự giám sát của các nhà nghiên cứu. - Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp R&D. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án R&D.
Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc R&D của các tổ chức R&D. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đưa ra khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN được hiểu là tổng số nhân lực có trình độ và số nhân lực có trình độ hiện đang công ya tac. 13 Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này như sau: về tổng số nhân lực có trình độ, khái niệm nảy cần phải được xem xét như một đại lượng đo, bởi qua đó có thê biết được tổng số những người được đào tao dé có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư, bat kề hiện tại họ có làm việc theo năng lực nay hay không. Nói cách khác, đại lượng này thé hiện cho tiềm năng của một Quốc gia về nhân lực KH&CN.
Tổng số nhân lực có trình độ chính là chỉ số nhân lực KH&CN. Về số nhân lực có trình độ hiện đang công tác, điều ấy được hiểu là phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước. Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác chính là chỉ số nhân lực R&D. Trên cơ sở này, UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau: Nhân lực trong lĩnh vực KH&CN không đơn giản là phép tính cộng tông đầu người, mà bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent - FTE) và các đặc trưng của họ.
Khuyến nghị của OECD và UNESCO được nhiều quốc gia áp dụng. Các nước OECD như Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản., đều chú trọng vào nhân lực R&D theo các tiêu chí cụ thể như: Đếm đầu người (headcount), FTE. Trong khi do, hé thong số liệu nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay mới chỉ là phương thức phản ánh “Tổng số nhân lực có trình độ” của một Quốc gia. Hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây: 1.
Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học. Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư) làm việc trong các doanh nghiệp. Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống. Cán bộ quản lý các cấp (kế cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thâm quyền của mình.
Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Bởi vậy, số lượng cán bộ KH&CN làm việc trực tiếp trong lĩnh vực R&D vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ KH&CN của nước ta. Vì thế ta cần phải thúc đây phát triển nhân lực khoa học và công nghệ thông qua nhiều hình thức đào tạo. Đào tạo nhân lực KH&CN Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc.
Quá trình chuyên từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải chuyên đổi căn bản, toàn diện các hoạt động quản lý về kinh tế - xã hội, điều đó đòi hỏi càng ngày phải ứng dụng rộng rãi KH&CN vào hoạt động quản lý của Bộ, ngành, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trong điều kiện mới. Tri thức khoa học và các thành tựu công nghệ cùng với việc lựa chọn được các biện pháp xây dựng, quản lý đội ngũ nhân lực KH&CN, trong đó xây dựng và hoàn thiện hệ thống chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học, công nghệ là một mũi nhọn, sẽ tạo lên sức mạnh tổng thể và là nguồn sức mạnh bền vững. Đặc biệt hoạt động đảo tạo nhân lực KH&CN, cũng là hoạt động được sự quan tâm nhiều của Đảng, Nhà nước và bản thân Doanh nghiệp. 15 Trên cơ sở khái niệm nhân lực KH&CN và khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân luc, ta có thé hiểu đào tạo nhân lực KH&CN là hoạt động bồi dưỡng nâng cao kiến thức về lý thuyết, kỹ năng thực hiện, về nghề nghiệp chuyên môn cho đội ngũ nhân lực KH&CN của các chủ thể nhất định, dé họ có thể tiếp tục hoàn thành và hoàn thành tốt hơn công việc của mình hay nhiệm vụ được giao; đáp ứng kip thời tiễn bộ khoa học kỹ thuật.
Mô hình và mô hình liên kết đào tạo 1. Mô hình Theo tác giả Trịnh Ngọc Thạch, trong cuốn sách: “Mô hình quản lý đào tạo nguon nhân lực chất lượng cao trong giáo dục đại học Việt Nam” do Nhà xuất bản Đại học quốc gia ấn hành năm 2012, thì thuật ngữ mô hình được hiểu theo hai nghĩa (nghĩa hẹp và nghĩa rộng). Theo nghĩa hẹp, mô hình là mẫu khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt; Là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa vì mục đích khoa học và sản suất).