Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số đào tạo thí điểm) của nghiên cứu sinh Đinh Việt Bách, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Quốc Khánh và TS. Hồ Ngọc Luật, mang tiêu đề: "Hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khoa học và công nghệ (KH&CN) giữ vai trò then chốt đối với năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia và cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ chức năng này, hoạt động KH&CN đòi hỏi môi trường tự chủ tương thích với tính chất sáng tạo, tính khách quan và tự do học thuật. Mặc dù Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương coi KH&CN là quốc sách hàng đầu và từng bước ban hành các văn bản thúc đẩy cơ chế tự chủ từ thập niên 1980, sự phát triển của hệ thống KH&CN trong nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực đầu tư.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam chưa được hoàn thiện đồng bộ và chưa phản ánh đúng đặc thù của hoạt động sáng tạo khoa học. Các quy định hiện hành vẫn tồn tại tình trạng cơ quan quản lý nhà nước vừa ban hành chính sách vừa trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu (tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi"); việc phân bổ nhiệm vụ và ngân sách còn mang tính hành chính, bao cấp; các tổ chức và nhân lực KH&CN công lập bị quản lý theo mô hình đơn vị sự nghiệp và ngạch viên chức hành chính; thị trường công nghệ vận hành chưa đồng bộ. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và xác lập các giải pháp mang tính hệ thống nhằm hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định và luận giải các giải pháp nhằm hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chủ thể hoạt động KH&CN, triết lý thiết chế tự chủ, vai trò của Nhà nước và mối quan hệ của thiết chế tự chủ đối với hệ thống KH&CN dưới góc độ tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia.
- Phân tích, đánh giá thực trạng triển khai thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam qua các thời kỳ, nhận diện những tồn tại, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân căn cốt.
- Đề xuất hệ thống các điều kiện và giải pháp đồng bộ nhằm hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu chính (6.1): Điều kiện nào để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam?
- Câu hỏi nghiên cứu phụ (6.2): Các giải pháp cụ thể để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam là gì?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết nghiên cứu chính (7.1): Điều kiện để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam là các chủ thể hoạt động KH&CN được quyền chủ động trong việc đề xuất và thực hiện nhiệm vụ KH&CN dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
- Giả thuyết nghiên cứu phụ (7.2): Các giải pháp cụ thể bao gồm:
- a) Nhà nước không trực tiếp thực hiện hoạt động KH&CN, chỉ thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN (đây là giải pháp chủ đạo, mang tính tiền đề quyết định).
- b) Nhiệm vụ KH&CN do chủ thể hoạt động KH&CN chủ động đề xuất và tổ chức thực hiện; Nhà nước xem xét tài trợ kinh phí.
- c) Chủ thể hoạt động KH&CN có quyền tự chủ trong quản lý, sử dụng tài chính từ mọi nguồn tài trợ.
- d) Mạng lưới tổ chức KH&CN công lập được tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối và không bị quản lý theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập truyền thống.
- đ) Nhân lực KH&CN công lập không bị quản lý theo quy chế công chức, viên chức nhà nước và được quyền tự chủ trong đề xuất, thực hiện nhiệm vụ.
- e) Tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với sản xuất kinh doanh và đào tạo.
- g) Nền kinh tế vận hành theo đúng quy luật thị trường, phát triển thị trường công nghệ và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam, bao gồm các hoạt động KH&CN, chủ thể hoạt động KH&CN, chính sách quản lý KH&CN và cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN.
- Phạm vi không gian: Hệ thống KH&CN tại Việt Nam (các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp) và đối chiếu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia (Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Thụy Điển, Trung Quốc, Liên bang Nga, Thái Lan).
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực tiễn tại Việt Nam từ thập niên 1980 đến thời điểm nghiên cứu (2018), tập trung sâu vào giai đoạn từ năm 2005 trở đi (thời điểm ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP). Dữ liệu kinh nghiệm quốc tế được khảo cứu từ giai đoạn thập niên 1930 đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thiết chế tự chủ và quản lý hệ thống KH&CN theo các nhóm chủ đề nội dung:
Các hướng nghiên cứu chính đã được tổng thuật
-
Nghiên cứu về quyền tự chủ trong hoạt động KH&CN:
- Robert K. Merton (1938, 1973) nghiên cứu về tính độc lập của khoa học trước ý thức hệ nhà nước, chỉ ra rằng khoa học cần vận hành theo các chuẩn mực chuyên môn thay vì các nguyên tắc hành chính.
- Michael Polanyi (1981) phê phán mô hình nghiên cứu khoa học theo kế hoạch hóa tập trung, khẳng định sự tiến bộ của tri thức đòi hỏi tự do học thuật và tự do lựa chọn hướng nghiên cứu.
- Sheldon Krimsky (2006) phân tích quyền tự chủ của nhà khoa học trong mối quan hệ với các bên tài trợ tài chính, nhấn mạnh yêu cầu không để nguồn tài trợ can thiệp làm sai lệch tự do học thuật.
- David B. Resnik (2008, 2009) xem xét sự cân bằng giữa quyền độc lập khoa học và sự giám sát công quyền, lập luận rằng sự can thiệp của chính phủ chỉ nên giới hạn ở mức tối thiểu vì các lý do an toàn, sức khỏe, môi trường và đạo đức nghiên cứu.
- Alfredo Marcos khẳng định tự chủ là điều kiện tiên quyết để khoa học đạt được sứ mệnh phát triển tri thức.
-
Nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN:
- Vũ Cao Đàm (2001, 2002, 2009a, 2009b, 2011, 2014, 2016) phân tích sự can thiệp sâu của cơ chế hành chính vào khoa học tại Việt Nam trong giai đoạn 1970–1980, đồng thời đánh giá bước chuyển biến khi ban hành Quyết định 175-CP (1981), Quyết định 134/HĐBT (1987) và Nghị định 35-HĐBT (1992) trong việc thừa nhận hợp đồng nghiên cứu và phá vỡ bao cấp khoa học.
- Hoàng Xuân Long (2007, 2008) chỉ ra Nhà nước cần chuyển từ quản lý trực tiếp sang vai trò quản trị vĩ mô và chủ sở hữu, giảm tỷ lệ giao kế hoạch pháp lệnh, chuyển sang cơ chế chào hàng, đặt hàng theo hợp đồng.
- Đỗ Mạnh Thường (2010) nhấn mạnh vai trò định hướng chính sách, bảo đảm quốc phòng - an ninh, tránh tình trạng phát triển tự phát và chuyển chế độ cấp phát kinh phí theo kết quả đầu ra có cạnh tranh.
-
Nghiên cứu về quản lý tổ chức và nhân lực KH&CN:
- Ping Lin (2002) và Dương Quỳnh Hoa (2009) phân tích kinh nghiệm Trung Quốc trong việc chuyển đổi các viện nghiên cứu sang hình thức doanh nghiệp hoặc tổ chức ngoài công lập, thực hiện hợp đồng lao động có thời hạn và chính sách thu hút nhân tài ("Chương trình 100 nhân tài").
- OECD (2011) và Kenneth L. Simons (2009) phân tích việc tái cơ cấu mạng lưới KH&CN công lập tại Liên bang Nga thông qua sáp nhập, giải thể và chuyển dịch cán bộ nghiên cứu ra khỏi ngạch viên chức nhà nước.
- Nguyễn Văn Học và Hoàng Văn Tuyên (2004b) đề xuất 6 hình thức chuyển đổi tổ chức nghiên cứu và phát triển (NC&PT) bao cấp ở Việt Nam.
- Phạm Huy Tiến (2003) nêu quan điểm chuyển từ chế độ "Nhà nước dùng người" sang "Tổ chức KH&CN dùng người".
- Lê Trọng Ân và Trương Văn Tuấn (2014) chỉ ra chính sách thu hút nhân tài của Hoa Kỳ (nơi nhân lực KH&CN không mang quốc tịch Hoa Kỳ chiếm 52%).
- Hồ Ngọc Luật (2012, 2017) chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố không gian nhân lực trình độ cao ở Việt Nam (90% tiến sĩ tập trung tại Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, trong đó Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chiếm 83%).
-
Nghiên cứu về cơ chế tài chính và gắn kết nghiên cứu - đào tạo - thị trường:
- Nguyễn Quân (2008) phân tích nghịch lý cơ cấu đầu tư: tổng chi xã hội cho KH&CN của Việt Nam khoảng 0,6% GDP (trong đó Ngân sách Nhà nước - NSNN chiếm 60–70%, khu vực ngoài công lập chỉ chiếm 30–40%), trái ngược với các nước phát triển nơi nguồn ngoài ngân sách chiếm khoảng 70%.
- Nguyễn Trường Giang (2013) và Nguyễn Quốc Anh (2015) chỉ ra sự dàn trải, thiếu tiêu chí định lượng đầu ra và vướng mắc thanh quyết toán tài chính công.
- Phan Công Nghĩa (2005), Nguyễn Phúc Khanh (2008), Phạm Thúy Hương (2011), Trần Nguyễn Tuyên (2010), Trần Văn Bình và Lê Hoài Phương (2015), Trần Anh Tuấn (2009) khảo sát mối liên kết viện - trường - doanh nghiệp và sự hình thành các tổ chức trung gian thị trường công nghệ.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây phần lớn tiếp cận vấn đề tự chủ ở cấp độ vi mô của từng tổ chức KH&CN hoặc nghiên cứu riêng rẽ từng khía cạnh (tài chính, tổ chức hoặc nhân sự). Luận án của Đinh Việt Bách định vị khoảng trống nghiên cứu bằng cách tiếp cận tổng thể thiết chế tự chủ dưới góc độ hệ thống đổi mới quốc gia, làm rõ nội hàm triết lý "Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp của hoạt động KH&CN", từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tái cấu trúc đồng bộ về thể chế, tài chính, tổ chức và nhân sự KH&CN tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ khái niệm công cụ: Luận án chuẩn hóa nội hàm các khái niệm: Thiết chế (tập hợp các quy tắc, chuẩn mực, luật lệ điều chỉnh hành vi của các chủ thể), Tự chủ, Tự chủ trong KH&CN (quyền tự quyết định về chuyên môn học thuật, tổ chức, nhân lực và tài chính), Hệ thống KH&CN, và Hiện thực hóa thiết chế tự chủ.
- Khung phân tích Hệ thống Đổi mới Quốc gia (National Innovation System - NIS): Luận án chuyển đổi hệ quy chiếu từ mô hình tuyến tính truyền thống (Khoa học đẩy - Science Push hoặc Thị trường kéo - Market Pull) sang mô hình phi tuyến của NIS. Trong hệ thống này, doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới; hoạt động KH&CN không kết thúc ở phát minh/sáng chế mà hoàn tất khi tạo ra sản phẩm/dịch vụ được thị trường chấp nhận.
- Mô hình triết lý quan hệ Nhà nước - KH&CN: Luận án phân tích 4 mô hình triết lý:
- Mô hình 1: Nhà nước không quan tâm đến KH&CN.
- Mô hình 2: Nhà nước độc quyền là chủ thể hoạt động KH&CN (kế hoạch hóa tập trung).
- Mô hình 3: Nhà nước và các thành phần kinh tế khác đều là chủ thể hoạt động KH&CN (mô hình chuyển đổi, bộc lộ mâu thuẫn "vừa đá bóng vừa thổi còi").
- Mô hình 4: Nhà nước không phải là chủ thể hoạt động KH&CN mà giữ vai trò quản lý vĩ mô, ban hành hành lang pháp lý, tài trợ và điều tiết thị trường (mô hình mục tiêu).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phi thực nghiệm:
- Nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và hệ thống hóa văn bản pháp quy, báo cáo chiến lược của Đảng, Chính phủ, Bộ KH&CN, Tổng cục Thống kê, cũng như tài liệu từ OECD, UNESCO.
- Khảo sát phi thực nghiệm bằng bảng hỏi:
- Quy mô phát phiếu: Gửi 640 phiếu khảo sát đến các tổ chức KH&CN công lập thuộc 22 bộ/ngành và 63 tỉnh/thành phố trên cả nước.
- Cơ cấu thu về: Thu về 441 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 68,9%), được phân loại cụ thể theo cấp quản lý:
- 222 tổ chức thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tập đoàn kinh tế/tổng công ty nhà nước.
- 151 tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- 68 tổ chức thuộc các trường đại học.
- Cấu trúc phiếu: Gồm 15 chỉ tiêu đo lường về nhân lực, nguồn tài chính, nhiệm vụ KH&CN, hợp đồng chuyển giao, bài báo, sáng chế, sách xuất bản và đào tạo sau đại học.
- Công cụ xử lý: Dữ liệu được tổng hợp, phân loại và thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Office Excel 2007.
| Phân loại tổ chức KH&CN khảo sát theo lĩnh vực |
Số lượng khảo sát ban đầu (N = 640) |
Số lượng phiếu thu về hợp lệ (N = 441) |
| Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ |
244 |
Phân bổ trong 441 phiếu thu |
| Khoa học Xã hội và Nhân văn |
155 |
Phân bổ trong 441 phiếu thu |
| Khoa học Nông nghiệp |
143 |
Phân bổ trong 441 phiếu thu |
| Khoa học Tự nhiên |
74 |
Phân bổ trong 441 phiếu thu |
| Khoa học Y Dược |
24 |
Phân bổ trong 441 phiếu thu |
- Phỏng vấn sâu chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn sâu và ghi âm ý kiến của 15 chuyên gia trong năm 2016, bao gồm các nhà quản lý nhà nước về KH&CN (vụ chức năng về tài chính, tổ chức cán bộ, kế hoạch, pháp chế thuộc Bộ KH&CN) và các nhà khoa học, giảng viên thuộc 5 lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Tọa đàm khoa học: Tổ chức lấy ý kiến phản biện trực tiếp đối với bản thảo luận án từ các chuyên gia tại Khoa Khoa học Quản lý (Đại học KHXH&NV Hà Nội), Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, và các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ
Chương này khái quát toàn bộ lịch sử nghiên cứu về tự chủ học thuật, vai trò của Nhà nước, cơ chế xác định nhiệm vụ, quản lý tổ chức, nhân lực, tài chính và liên kết nghiên cứu - thị trường trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã đúc kết được nguyên lý giảm thiểu can thiệp hành chính vào khoa học, còn các công trình tại Việt Nam đã phản ánh được các giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý nhưng chưa giải quyết triệt để vấn đề xung đột vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng hệ thống đổi mới.
Chương 2: Cơ sở lý luận của thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết của luận án:
- Phân tích mối quan hệ giữa thiết chế tự chủ và hiệu quả của hệ thống KH&CN.
- Xác lập luận điểm: trong nền kinh tế thị trường, hoạt động KH&CN phải lấy doanh nghiệp làm trung tâm và chịu sự dẫn dắt của tín hiệu thị trường.
- Luận giải 4 mô hình triết lý về vai trò của Nhà nước, chứng minh rằng sự can thiệp của Nhà nước với tư cách là chủ thể trực tiếp làm nghiên cứu sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, triệt tiêu động lực cạnh tranh của khu vực ngoài công lập và làm biến dạng thị trường KH&CN.
Chương 3: Thực trạng triển khai thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam
Chương 3 phân tích tiến trình lịch sử quy định pháp lý và kết quả thực tiễn qua các mốc thời gian:
- Giai đoạn 1980–1992: Bắt đầu với Quyết định 175-CP (1981) cho phép ký kết hợp đồng kinh tế nghiên cứu kỹ thuật và Quyết định 134/HĐBT (1987), bước đầu xóa bỏ quan niệm hành chính hóa khoa học.
- Giai đoạn 1992–2004: Thực hiện Nghị định 35-HĐBT (1992), mở rộng quyền cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động KH&CN.
- Giai đoạn 2004–2013: Triển khai Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập.
- Giai đoạn 2013 đến 2018: Triển khai Luật KH&CN năm 2013 và Nghị định 54/2016/NĐ-CP.
Các phát hiện thực trạng và dữ liệu thống kê then chốt
- Về mạng lưới tổ chức: Đến năm 2016, mạng lưới tổ chức KH&CN cả nước có quy mô trên 3.000 tổ chức, trong đó phần lớn là các đơn vị công lập được quản lý cồng kềnh, phân tán ở nhiều cấp bộ, ngành và địa phương, gây trùng lặp chức năng và phân tán nguồn lực.
- Về tài chính: Cơ cấu phân bổ ngân sách mang tính bình quân, bao cấp. Đầu tư xã hội cho KH&CN chỉ đạt khoảng 0,6% GDP, trong đó NSNN gánh vác 60–70%, còn đầu tư từ doanh nghiệp và khu vực tư nhân chỉ chiếm 30–40%. Quy trình phê duyệt, cấp phát và thanh quyết toán theo quy định tài chính công tạo rào cản hành chính lớn cho tính linh hoạt của nghiên cứu.
| Chỉ tiêu so sánh tài chính KH&CN |
Việt Nam |
Nhóm các nước phát triển (EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc) |
| Tỷ lệ tổng đầu tư cho KH&CN / GDP |
~0,6% GDP |
1,95% – gần 5,0% GDP |
| Tỷ trọng đóng góp từ Ngân sách Nhà nước |
60% – 70% |
~30% |
| Tỷ trọng đóng góp từ khu vực ngoài công lập / Doanh nghiệp |
30% – 40% |
~70% |
- Về nhân lực: Quản lý nhân sự trong các tổ chức KH&CN công lập bị ràng buộc chặt chẽ bởi Luật Viên chức, biên chế nhà nước và thang bảng lương hành chính (Nghị định 204/2004/NĐ-CP, Nghị định 29/2012/NĐ-CP), không tạo động lực đãi ngộ tương xứng với năng lực sáng tạo. Tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về phân bổ địa lý: 90% nhân lực trình độ tiến sĩ tập trung tại Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chiếm 83%).
- Về thực hiện nhiệm vụ và quyền sở hữu: Quy trình giao nhiệm vụ cấp nhà nước còn nặng cơ chế xin - cho; phân định quyền sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách còn nhiều vướng mắc pháp lý khiến sản phẩm khó chuyển giao ra thị trường.
Chương 4: Giải pháp hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam
Chương 4 xác định các điều kiện và hệ thống 7 giải pháp cốt lõi:
- Điều kiện cần: Nhận thức rõ ràng và nhất quán về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hệ thống đổi mới; tách bạch hoàn toàn chức năng quản lý nhà nước với chức năng nghiên cứu thực hiện.
- Điều kiện đủ: Nền kinh tế vận hành theo đúng cơ chế thị trường, hình thành đầy đủ cung - cầu và thị trường công nghệ hoàn chỉnh.
- Hệ thống 7 giải pháp thực hiện:
- Định vị lại vai trò của Nhà nước: Nhà nước chấm dứt việc trực tiếp thực hiện hoạt động KH&CN, chỉ tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước vĩ mô (xây dựng hành lang pháp lý, tiêu chuẩn, chính sách khuyến khích, bảo hộ sở hữu trí tuệ).
- Đổi mới cơ chế xác định nhiệm vụ: Chuyển từ giao nhiệm vụ hành chính sang cơ chế chủ thể nghiên cứu chủ động đề xuất xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn; Nhà nước đóng vai trò bên thẩm định và tài trợ thông qua các quỹ KH&CN cạnh tranh.
- Tự chủ tài chính toàn diện: Trao quyền quyết định phân bổ ngân sách nghiên cứu cho tổ chức chủ trì; bắt buộc tỷ lệ vốn đối ứng từ doanh nghiệp hoặc bên thứ ba khi nhận tài trợ nhà nước; hoàn thiện ưu đãi thuế, tín dụng và quỹ đầu tư mạo hiểm.
- Tái cấu trúc mạng lưới tổ chức KH&CN công lập: Giảm mạnh đầu mối, sáp nhập, giải thể các đơn vị hoạt động kém hiệu quả; chuyển đổi các viện nghiên cứu ứng dụng thành doanh nghiệp KH&CN hoặc trực thuộc tổng công ty/tập đoàn; xóa bỏ quản lý theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập hành chính.
- Đổi mới căn bản quản lý nhân lực: Bãi bỏ chế độ biên chế viên chức suốt đời đối với cán bộ nghiên cứu, chuyển hoàn toàn sang cơ chế hợp đồng lao động theo vị trí việc làm; thực hiện trả lương theo hiệu quả đầu ra và trao quyền tự chủ tự do học thuật.
- Gắn kết hữu cơ viện - trường - doanh nghiệp: Khuyến khích mô hình đại học nghiên cứu; cho phép nhà khoa học hưởng tỷ lệ phần trăm từ thương mại hóa sáng chế (học tập kinh nghiệm chia sẻ 30% lợi nhuận tại Đức); phát triển doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off).
- Phát triển đồng bộ thị trường công nghệ: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cung - cầu công nghệ; phát triển mạng lưới các tổ chức trung gian môi giới, thẩm định giá công nghệ (tham khảo kinh nghiệm mạng lưới 60.000 trung tâm môi giới của Trung Quốc); bảo vệ nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xác lập triết lý thiết chế tự chủ theo cách tiếp cận Hệ thống Đổi mới Quốc gia: Luận án luận giải một cách khoa học rằng hoạt động KH&CN không thể bị chi phối bởi ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính của Nhà nước. Nhà nước không phải là chủ thể của hoạt động KH&CN mà là chủ thể quản lý vĩ mô và kiến tạo môi trường.
- Làm rõ tính phi tuyến của quá trình đổi mới: Đưa ra luận cứ khẳng định hoạt động KH&CN chỉ hoàn thành chu trình khi tạo ra sản phẩm/dịch vụ được thị trường chấp nhận, xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thay vì các viện nghiên cứu khép kín.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện: Thông qua kết quả điều tra 441 tổ chức KH&CN công lập trên toàn quốc và phỏng vấn sâu 15 chuyên gia, luận án làm rõ nguyên nhân khiến các chính sách tự chủ trước đây (như Nghị định 115/2005/NĐ-CP) chưa đạt kết quả mong muốn do thiếu tính đồng bộ giữa thể chế KH&CN với thể chế tài chính công, quản lý công chức - viên chức và quản lý tài sản công.
- Hệ thống hóa 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi: Luận án đề xuất giải pháp đột phá về việc chuyển đổi toàn diện mô hình tổ chức KH&CN công lập thoát ly khỏi khung quản lý đơn vị sự nghiệp, chuyển chế độ nhân lực sang hợp đồng lao động, và áp dụng nguyên tắc tài trợ kinh phí có đối ứng thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do phạm vi bao quát của đề tài rất rộng, vấn đề tái cơ cấu và đa dạng hóa nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN (đặc biệt là cơ chế vận hành quỹ đầu tư mạo hiểm, chính sách ưu đãi thuế, tín dụng đầu tư và cơ chế tài chính cho tài sản trí tuệ hình thành từ NSNN) mới được giải quyết ở mức độ định hướng khung giải pháp, chưa thể đi sâu vào thiết kế kỹ thuật tài chính chi tiết cho từng loại hình tổ chức.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả kiến nghị cần triển khai một công trình nghiên cứu chuyên sâu riêng biệt về: "Tái cơ cấu và đa dạng hóa các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ tại Việt Nam".
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng trong lĩnh vực quản lý và chính sách:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Các đơn vị như Bộ KH&CN, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính có thể sử dụng các luận cứ của luận án để sửa đổi Luật KH&CN, hoàn thiện các nghị định về tự chủ tổ chức sự nghiệp KH&CN và tái cơ cấu mạng lưới viện nghiên cứu.
- Lãnh đạo các tổ chức KH&CN và cơ sở giáo dục đại học: Cung cấp cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế phục vụ chuyển đổi mô hình quản trị, chuyển dịch nhân sự sang hợp đồng vị trí việc làm và xây dựng cơ chế phân phối quyền sở hữu tài sản trí tuệ.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu học thuật giá trị trong các chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản lý công, Khoa học chính sách và Kinh tế học đổi mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nguyên nhân cốt lõi nào khiến cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP chưa thành công trọn vẹn trên thực tế?
Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu sự đồng bộ của hệ thống thể chế vĩ mô. Mặc dù văn bản KH&CN trao quyền tự chủ, nhưng tổ chức KH&CN công lập vẫn bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật chuyên ngành khác: Luật Viên chức (quản lý nhân sự theo biên chế, ngạch bậc), Luật Ngân sách Nhà nước (cơ chế thanh quyết toán hành chính, dàn trải), Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (khó khăn trong việc định giá và góp vốn bằng tài sản trí tuệ) và sự chậm phát triển của thị trường công nghệ.
2. Triết lý căn bản về vai trò của Nhà nước trong hệ thống KH&CN được luận án xác lập là gì?
Triết lý căn bản là: Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động KH&CN; Nhà nước chỉ thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN. Nhiệm vụ nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường và do các chủ thể nghiên cứu chủ động đề xuất. Nhà nước định hướng bằng chính sách và đóng vai trò cơ quan tài trợ thông qua các quỹ khoa học có xét chọn cạnh tranh.
3. Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào?
Dữ liệu thực nghiệm gồm:
- Khảo sát bằng bảng hỏi với 15 chỉ tiêu tại 640 tổ chức KH&CN công lập thuộc 22 bộ/ngành và 63 địa phương, thu về 441 phiếu hợp lệ (gồm 222 tổ chức thuộc bộ/ngành/tập đoàn, 151 tổ chức thuộc tỉnh/thành phố và 68 tổ chức thuộc trường đại học).
- Phỏng vấn sâu 15 chuyên gia là nhà quản lý nhà nước về KH&CN và nhà khoa học thuộc 5 lĩnh vực chuyên môn trong năm 2016.
- Kết quả trao đổi tại các buổi tọa đàm khoa học với chuyên gia tại các cơ quan quản lý và nghiên cứu chính sách KH&CN.
4. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với chế độ quản lý nhân lực trong các tổ chức KH&CN công lập?
Luận án đề xuất xóa bỏ cơ chế quản lý nhân lực KH&CN theo biên chế viên chức/công chức hành chính nhà nước. Thay vào đó, chuyển đổi sang cơ chế ký kết hợp đồng lao động theo vị trí việc làm, trả lương theo kết quả đầu ra và mức độ đóng góp khoa học, tạo sự linh hoạt trong việc luân chuyển cán bộ giữa khu vực nghiên cứu và khu vực doanh nghiệp, đồng thời trao quyền tự chủ học thuật cao nhất cho nhà khoa học.
5. Tỷ lệ đầu tư tài chính cho KH&CN của Việt Nam được luận án phân tích có điểm bất cập gì so với quốc tế?
Tổng mức đầu tư cho KH&CN của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,6% GDP (trong khi các nước như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc từ 1,95% đến gần 5% GDP). Bất cập lớn hơn nằm ở cơ cấu nguồn vốn: tại Việt Nam, NSNN phải gánh 60–70% tổng mức đầu tư xã hội và khu vực ngoài công lập chỉ chiếm 30–40%; trong khi ở các quốc gia phát triển, doanh nghiệp và khu vực ngoài nhà nước đóng góp tới 70% tổng nguồn lực đầu tư cho R&D.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đinh Việt Bách đã giải quyết một cách hệ thống và nhất quán bài toán hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam trên nền tảng tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn và tổng thuật sâu sắc các quy luật phát triển KH&CN quốc tế, công trình đã chứng minh tính tất yếu của việc chuyển dịch vai trò của Nhà nước từ can thiệp trực tiếp sang quản trị kiến tạo vĩ mô. Hệ thống 7 giải pháp đồng bộ được luận án đề xuất là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào công cuộc hoàn thiện thể chế quản lý KH&CN, thúc đẩy giải phóng năng lực sáng tạo và kết nối hoạt động nghiên cứu khoa học với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.