CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU LIÊN QUAN DEN THIẾT CHE TU CHU TRONG HE THONG KHOA HOC VA CONG NGHE Với mục tiêu chỉ ra các giải pháp dé hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, Chương này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các nghiên cứu trước đây ở trong nước và nước ngoài liên quan đến thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN. Qua đó, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu và triển khai thiết chế tự chủ trong hoạt động KH&CN, đánh giá những nghiên cứu trước đây đã làm được những gì, làm đến đâu, còn nội dung nào chưa được nghiên cứu và đề cập, dé từ đó đặt ra cho luận án những van đề cần phải tập trung nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu, thực hiện thiết chế tự chủ 1. Về tự chủ trong hoạt động KH&CN Vấn đề tự chủ trong KH&CN đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm, sau đây là một số tác giả tiêu biểu: Thứ nhất, Robert K.
Merton - nhà xã hội học người Mỹ, đề cập đến quyền tự chủ của khoa học trong bối cảnh sự nồi lên của chủ nghĩa phát xít và nhà nước toàn tri. Ong đặt câu hỏi liệu khoa hoc có nam trong trật tự xã hội có thể duy trì độc lập với tư tưởng nhà nước, trong khi nó phụ thuộc phần lớn vào các nguồn lực của nhà nước. Merton, tự chủ trong khoa học có nghĩa là các nhà khoa học có thể hoạt động theo các chuẩn mực chuyên môn của họ chứ không phải là theo nguyên tắc của Nhà nước [Robert K. Thứ hai, triết gia người Hungary Michael Polanyi đã đưa ra quan điểm về tự chủ trong KH&CN, ông phản đối việc NCKH theo kế hoạch tập trung (theo kế hoạch do Nhà nước giao) và bảo vệ quan điểm của mình về việc tự chủ trong NCKH.
Theo Michael Polanyi, khoa học phát triển khi các nhà khoa học có quyền tự do theo đuổi chân lý, các nhà khoa học phải được tự do lựa chọn các vấn đề 18 nghiên cứu mà họ theo đuổi và tự do thực hiện hoạt động nghiên cứu theo cách nhìn nhận của họ [Joseph Agassi, Michael Polanyi, 1981, pp. Thứ ba, Sheldon Krimsky, Giáo su về Chính sách và Quy hoạch Đô thị và Môi trường tại Đại học Tufts (một trường đại học nghiên cứu tư nhân được thành lập ở đô thị Medford, Massachusetts, Hoa Kỳ) cũng đã nghiên cứu về tự chủ trong KH&CN. Theo Sheldon Krimsky, các nhà khoa học phải được tự chủ trong hoạt động NCKH, không bị các nhà tài trợ kiểm soát tự do học thuật của mình, mặc dù kinh phí nghiên cứu được tài trợ bởi một nhà tài trợ từ bên ngoài, nếu nhà khoa học bị nhà tài trợ kiểm soát tự do học thuật thi nhà khoa học có thé từ chối kinh phí hỗ trợ nghiên cứu từ các nhà tài trợ [K. Thứ tư, trong nghiên cứu năm 2009 của David B.
Resnik, nhà nghiên cứu sinh học tại Viện Khoa học Sức khoẻ Môi trường Quốc gia Hoa Kỳ, ông xem xét mối quan hệ giữa khoa học và chính trị và lập luận về sự cân bằng giữa tự chủ trong khoa học với sự giám sát và kiểm soát của chính phủ. Ông sử dụng lý thuyết đạo đức và các nghiên cứu tình huống lịch sử để tranh luận về giới hạn của sự tự chủ trong NCKH. Resnik, tính tự chủ của các nhà khoa học có thể bị hạn chế nhưng cần phải ở mức tối thiêu. Dé tạo ra những kết quả hữu ích cho xã hội, như kiến thức khoa học với các ứng dụng thực tiễn và những gợi ý về chính sách, các nhà khoa học nên được phép tự chủ trong việc đưa ra các quyết định trong phạm vi chuyên môn của mình, không bị can thiệp và kiểm soát từ bên ngoài.
Tuy nhiên, quyền tự chủ của các tổ chức khoa học chỉ có thé bị hạn chế nếu vì ly do sức khoẻ và an toàn, bảo vệ môi trường, vì tính toàn vẹn của nghiên cứu, bảo vệ các đối tượng nghiên cứu là con người và động vật, tức là hạn chế tối đa sự giám sát của Chính phủ đối với hoạt động NCKH [D. Thứ năm, trong nghiên cứu của minh, Alfredo Marcos, Giao su Triết học Khoa học, Đại học Valladolid đã khẳng định khoa học là một trong những hoạt động đầu tiên của con người đòi hỏi quyền tự chủ của nó, theo ông, quyền tự chủ của khoa học là một trong những yếu tô chính góp phần vào sự phát triển của khoa học. Theo 19 Alfredo Marcos, khoa học sẽ hoàn thành tốt nhất các vai trò và mục tiêu của mình nếu khoa học có quyền tự chủ [E. Về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động KH&CN, ngoài chức năng ban hành chính sách vĩ mô dé tạo hành lang pháp lý, khuyến khích, thúc day phát triển hoạt động KH&CN, Nhà nước còn có thé đầu tư, tai trợ các nguồn lực vào các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trong điểm mà các thành phần khác không muốn đầu tư hoặc không có khả năng đầu tư.
Về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN, năm 1938, trong nghiên cứu của Robert K. Merton, ông cho rằng Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp vào hoạt động NCKH, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu, mặc dù Nhà nước đầu tư nguồn lực cho việc NCKH. Bởi vì theo ông, hoạt động NCKH có tính khách quan, vì thế hoạt động nghiên cứu cần phải có tính độc lập với các chủ trương, quan điểm của Nhà nước, các kết quả nghiên cứu đưa ra là khách quan, không thể phụ thuộc vào tư tưởng của Nhà nước, Nhà nước không thé yêu cầu hoạt động NCKH tuân theo các nguyên tắc của Nhà nước [Robert K. Na 2001, tác giả Vũ Cao Dam đã có nghiên cứu va chỉ ra sự can thiệp quá sâu vào hoạt động KH&CN của Nhà nước Việt Nam trong những năm của thập kỷ 70 và 80, thế ky 20 [Vũ Cao Dam, 2001, tr.
Trong gian đoạn này, theo tác giả Vũ Cao Đàm, mọi hoạt động NCKH đều do các viện nghiên cứu của Nhà nước thực hiện theo kế hoạch và sự phân công, chỉ định của Nhà nước, Nhà nước đầu tư kinh phí dé thực hiện hoạt động nghiên cứu, kết quả nghiên cứu phải nộp về cho Nhà nước đề Nhà nước quyết định việc áp dụng kết quả nghiên cứu, tiền thu được từ bán sản phẩm thử nghiệm phải nộp vào NSNN. Đơn vị kinh tế thực hiện chức năng sản xuất muốn được ứng dụng các kết quả nghiên cứu từ các cơ sở NCKH đều chưa được thực hiện vì chưa có các hành lang pháp lý. Theo tác giả Vũ Cao Đàm, để tạo điều kiện thúc đây phát triển hoạt động NCKH và đây mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuât và đời sông, 20 Chính phủ ban hành Quyết định số 175-CP ngày 29/4/1981 về việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong NCKH và triển khai kỹ thuật, trong đó cho phép các tô chức KH&CN công lập, các trường đại học, cao đăng, các tổ chức kinh tế của Nhà nước và tập thé được ký kết hợp đồng NCKH va áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống. Tại một nghiên cứu khác, tác giả Vũ Cao Đàm đánh giá qua khoảng 2 năm triển khai thực hiện Quyết định 175-CP, mặc dù đã có những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định [Vũ Cao Đàm, 2009b, tr.
Đó là nhiều kỹ thuật tiến bộ chưa được áp dụng rộng rãi vào sản xuất và đời sống. Nguyên nhân của hạn chế này là do Quyết định 175-CP chỉ cho phép các tổ chức NC&TK ký hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ KH&CN mà bên giao hợp đồng phải là các tổ chức thuộc Nhà nước hoặc tập thé; trong hợp đồng, giá cả được các bên ký kết thỏa thuận nhưng trong phạm vi của khung giá do Nhà nước quy định. Trong nghiên cứu năm 2002, tác giả Vũ Cao Đàm đã nhận xét về Quyết định 134/HDBT ngày 31/8/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về một số biện pháp khuyến khích công tác khoa học và kỹ thuật như sau: “Nhà nước cho phép mọi hình thức liên kết giữa các nhà nghiên cứu trong khuôn khổ một tập thé tự nguyện, một bước xóa bỏ quan niệm hành chính hóa khoa học, vốn xem hoạt động khoa học chỉ có thể thực hiện trong phạm vi quan hệ hành chính giữa các cơ quan nhà nước; Nhà nước cho phép các đối tác được định giá sản phẩm khoa học theo một số phương thức thích hợp, kế cả việc chấp nhận với nhau một giá thỏa thuận; Nhà nước cho phép các tô chức KH&CN công lập sản xuất đơn chiếc hoặc loạt nhỏ các sản phẩm do kết quả nghiên thỏa thuận đã cho phép không chỉ các tổ chức KH&CN công lập được ký hợp đồng NCKH và phát triển công nghệ với cả đơn vị kinh tế tư nhân” [Vũ Cao Dam, 2002, tr. Về vai trò của Nha nước trong hoạt động KH&CN cũng được tác giả Hoang Xuân Long đề cập đến trong một nghiên cứu.
Theo tác giả Hoàng Xuân Long, Nhà nước nên đôi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN nhưng không phải xoá bỏ hoàn 21 toàn vai trò quản lý của Nhà nước, quyền tự chủ của tổ chức KH&CN chi có thé thực hiện trong điều kiện tồn tại cơ chế quản lý vĩ mô thích hợp. Nhà nước chỉ nên tập trung vào chức năng quản lý Nhà nước và vai trò chủ sở hữu chứ không quản lý trực tiếp, toàn diện các tô chức KH&CN, cu thé: Nhà nước nên đổi mới quản lý kế hoạch, coi trọng cơ chế điều tiết của thị trường, đồng thời cải tiến quản lý kế hoạch theo hướng giảm tỷ lệ giao kế hoạch mang tính pháp lệnh, mở rộng phạm vi kế hoạch mang tính chi đạo, thực hiện biện pháp quản ly nhiệm vụ theo cơ chế chảo hàng, hợp đồng và trách nhiệm [Hoàng Xuân Long, 2007, tr.