CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHỢ CÔNG NGHỆ 1.1 Công nghệ: Có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ do kinh nghiệm của các tác giả, tô chức khác nhau và phục vụ cho công việc cụ thé của họ. Theo UNTACD (1972) đưa ra định nghĩa “công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá được thể hiện ở một trong những dạng sau: - Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư; - Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên môn sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật, làm chủ được bộ máy giả quyết vấn đề và sản xuất thông tin; - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giv bí mật như là một phần của hoạt động độc quyền”. Định nghĩa này cho thấy, về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, có mục tiêu làm đầu vào cần thiết cho sản xuất.
Ngân hàng thé giới (1985) định nghĩa “công nghệ là phương pháp chuyền hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: (1) thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp dé thực hiện việc chuyên hoá; (3) sự hiểu biết phương pháp phương pháp hoạt động như thé nao và tại sao”. Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyên hoá các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. 17 Sharif (1986) cho rằng “công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hoá”. Cụ thể hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản pham hoan chinh), con goi la phan kỹ thuật (technoware).
- Dang con người (kiến thức, kỷ năng va kinh nghiệm): humanware. - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dit kiện thích hợp được mô ta trong các ấn phẩm, tài liéu,. - Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư van, cơ cau quan lý, cơ sở pháp luật,. Trong giới quản lý KH&CN ở nước ta, khái niệm công nghệ gồm 4 phan theo định nghĩa của Sharif được sử dụng phô biến.
Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000): công nghệ là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả công cụ và phương tiện, hay phần cứng”. Thực tiễn hoạt động ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cho thấy giai đoạn đầu của quá trình phát triển, việc thu nạp công nghệ qua hình thức mua bán li — xăng là chưa nhiều và còn chiếm tỷ lệ thấp so với hình thức mua sắm máy móc, thiết bị, hoặc hệ thống thiết bị toàn bộ. Một phần quan trọng của tri thức công nghệ được thu nạp vào thông qua mua sắm tư liệu sản xuất, tích luỹ khi vận hành các máy móc.
Mua sắm máy móc thiết bị (mà trong nhiều trường hợp hàm chứa trong đó những thành quả của hoạt động nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển hơn) tránh cho các nước đang phát triển không lập lại những hoạt động R&D đã được tiến hành trước đó. 18 Việc coi công nghệ bao gồm cả việc mang công nghệ tỏ ra thuận lợi hơn khi xem xét vấn đề mua bán công nghệ ở các nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, tuy cái cần thu nạp khi mua bán là tri thức công nghệ, nhưng đối tượng được mua bán trên danh nghĩa là vật mang công nghệ.2 Thị trường khoa học va công nghệ: Thị trường là chợ. Chợ họp có địa điểm.
Người có hàng mang ra chợ bán, người cần hàng đến chợ để mua. Chợ họp trong một thời gian nhất định, theo một chu kỳ nhất định. Chợ có thể chuyền bán một loại hàng hoá nảo đó, có thé chỉ họp trong một dip nao đó (chợ phiên). Chợ có thé là nơi người bán và người mua gặp nhau dé giới thiệu, tìm hiểu hàng hoá, đàm phán mua bán những mặt hàng hiện tại chưa có ở chợ (hội chợ).
Hiện nay cách hiểu thị trường công nghệ như một chợ mua bán công nghệ là khá phổ biến trong các cơ quan hoạch định chính sách. Hiểu theo cách này thì phát triển thị trường công nghệ tức là lập chợ, đưa ra các nội quy họp chợ cũng như những biện pháp cần thiết khác dé chợ hoạt động được. Thị trường là tập hợp người mua. Theo định nghĩa này phát triển thị trường công nghệ tức là làm cho nhu cầu đổi mới công nghệ tăng lên, số người mua nhiều hơn, lượng mua lớn hơn.
Thị trường là một cơ chế phân bồ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản pham, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh. Thị trường là một thể chế kinh tế dé thực hiện các giao dịch kinh tế. Thị trường công nghệ: là những thé chế dam bảo cho việc mua bán công nghệ đựơc thực hiện thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia. Theo Grif thì thé chế là các quy tắc, cơ chế thi hành và các tổ chức.3 Chuyến giao công nghệ: Theo Luật chuyên giao công nghệ thì “Chuyên giao công nghệ là chuyên giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyền giao sang bên nhận công nghệ”.4 Định giá công nghệ: “Là hoạt động xác định giá của công nghệ” (Luật chuyên giao công nghệ) 1.5 Xúc tiến chuyển giao công nghệ: là hoạt động thúc day, tạo và tìm kiếm cơ hội chuyên giao công nghệ, cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ: tô chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ.6 Chợ công nghệ: Nếu hiểu theo nghĩa chợ CN&TB định kỳ thì Chợ công nghệ là hoạt động giao dịch công nghệ được tiến hành tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định tập trung trién lãm những thành quả công nghệ, tổ chức các bên thương thảo với nhau và ký kết hợp đồng chuyên giao.
Nội dung giao dịch công nghệ bao gồm: v⁄ Trưng bày và giao dịch thành quả công nghệ; ⁄ Mời thầu dự án công nghệ; V Công bồ thông tin công nghệ; Bán sản phẩm mới nghiên cứu khoa học; Thương thảo, ký kết hợp đồng công nghệ và hoạt động khác có liên quan đến thị trường công nghệ. Công nghệ tham gia giao dịch phải là thành quả công nghệ và sản phâm công nghệ được Nhà nước cho phép giao dịch và có giá trị thực dụng nhân rộng. — Cơ quan dich vụ trung gian KH&CN Cơ quan dich vụ trung gian KH&CN là cơ quan cung cap cho chủ thé đổi mới công nghệ những dịch vụ như xã hội hóa, chuyên nghiệp hóa để hỗ trợ và thúc đây hoạt động đổi mới có liên quan trực tiếp đến đổi mới công nghệ. Những cơ quan này 20 chủ yếu triển khai các nghiệp vụ như trao đổi thông tin, tư vấn chính sách, bố trí nguồn lực, dich vụ công nghệ và đánh giá KH&CN, phát huy tác dụng thúc day mang tính then chốt trong chuyên giao tri thức và chuyển giao công nghệ giữa các chủ thê đổi mới và thị trường, có thé tao ra hiệu quả và giảm thiểu chi phí đổi mới, phòng ngừa mạo hiểm, đây nhanh chuyền hóa thành quả KH&CN và nâng cao hiệu quả đổi mỚI.
— Người môi giới công nghệ Người môi giới công nghệ là công dân, pháp nhân và tổ chức kinh tế khác tiến hành nghiệp vụ môi giới như làm trung gian, môi giới, đại lý và có được tiền hoa hồng hợp lý nhằm thúc day chuyển hóa thành quả và đưa giao dịch công nghệ của người khác đi đến thành công. Từ phân tích các khái niệm công nghệ trên, ta có thể hiểu trong luận văn này khái niệm Chợ Công nghệ được hiểu là Chợ Thiết bị và Công nghệ (còn gọi là Techmart). Hiện nay ta có các Techmart như sau: Techmart Việt Nam (Techmart quốc gia), Techmart địa phương, Techmart đa ngành, Techmart chuyên ngành. Techmart Việt Nam: là Techmart được tổ chức ở quy mô cả nước (2 năm/lần).
Techmart Việt Nam bao gồm Techmart đa ngành và Techmart chuyên ngành. Có năm nâng lên thành Techmart ASEAN+3 năm 2009 hoặc International Techmart Viet Nam 2012. Techmart địa phương là Techmart do một tinh/thanh phố hoặc một số tinh/thanh phó liên kết t6 chức dé đáp ứng nhu cầu trình diễn công nghệ, thiết bị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hoặc một số địa phương. Techmart địa phương có thể là Techmart đa ngành hoặc chuyên ngành.
21 Techmart đa ngành là Techmart có nội dung liên quan tới công nghệ nhiều ngành khác nhau. Techmart chuyên ngành là Techmart có liên quan tới một ngành hoặc nhóm ngành công nghệ cụ thê. Mô hình hội chợ - triển lãm truyền thống ở Việt Nam như: các hội chợ thương mại tổng hợp, các hội chợ hàng công nghiệp, các hội chợ chuyên ngành xây dựng, dược liệu, nông nghiệp,. cũng là kênh quan trọng để các dòng công nghệ và thiết bị tiên tiến của các nước đi vào thị trường Việt Nam va đã chiếm được thị phan lớn.7 Sàn giao dịch công nghệ: San giao dịch công nghệ (GDCN) là đầu mối giao dịch thường xuyên dé đưa máy móc của các trường, viện, cá nhân,.
đến doanh nghiệp. Qua san nay, doanh nghiệp có thé đặt hang cho nhà khoa học, các kỹ sư nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của mình. Cấu trúc của San giao dịch công nghệ: Trung tâm sàn, các đại lý, các tổ chức trung gian. Chức năng của San GDCN: Giao dịch thông tin, chuyên giao công nghệ.
San GDCN dùng hệ thống mạng lưới liên kết giữa bên cung, bên cầu và các tổ chức trung gian thúc day hoạt động chuyền giao công nghệ. Cơ sé pháp lý của việc thúc day hoạt động chuyền giao công nghệ: 2.1 Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn bản pháp quy của chính phủ, cơ quan trực thuộc Chính phủ: Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước, một trong những quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước là xây dựng và phát triển thị trường công nghệ.